Thursday, July 9, 2009

Sơ Đồ Tổ Chức Nha Kỹ Thuật

Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Trần Bá Tuân Chỉ Huy Phó Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật


Trang 96
Nha Kỹ-Thuật (NKT) là cơ quan tình báo chiến lược của QLVNCH, là một đơn vị đặc trách tổ chức, hoạt động sưu tầm tin tức tình báo, phản tình báo chiến lược từ nội bộ cộng sản Bắc Việt cũng như trong hậu tuyến địch, những nơi có cơ sở, đơn vị cộng-sản trong và ngoài lãnh thổ VNCH.

Khởi đầu là Phòng 6 TTM do trung tá Lung đảm trách. Trong thời đệ nhất Cộng Hòa là sở Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống và Lực Lượng Ðặc Biệt do đại tá Lê quang Tung làm tư lệnh. Sau cuộc chỉnh biến 11/63 cho đến tháng 4/75 lần lượt chỉ huy bởi các tướng Nghiêm, Quảng, Lam-Sơn, Phú, trung tá Lan, đại tá Hổ và cuối cùng là đại tá Nu. Danh xưng được đổi từ Phòng 6, đến sở Liên Lạc Phủ TổngThống, Lực Lượng Ðặc Biệt,sở Khai thác Ðiạ hình, và cuối cùng là Nha Kỹ Thuật.

Trong thời đệ nhất Cộnghòa, mọi hoạt động được đại tá Tung trực tiếp nhận chỉ thị cũng như phúc trình với Tổng Thống Ngô đình Diệm và cố vấn Ngô đình Nhu. Cũng trong thời gian này, mọi hoạt động được cố vấn và yểm trợ bởi cơquan Trung-Ương Tình-Báo CIA Hoa Kỳ. Sau tháng 11/63 mọi hoạt động đều trực tiếp qua đại tướng TTMT bộ TTM và được cố vấn, yểm trợ bởi cơ quan tình báo quân sự Hoa Kỳ SOG (Study and Observation Group). Các đơn vị, cơ sở thuộc NKT gồm: sở Công Tác, sở Liên Lạc, sở Phòng Vệ Duyên Hải, sở Tâm Lý Chiến, sở Không Yểm và trung tâm huấn luyện Quyết Thắng. Sở Công Tác đóng tại Sơn Trà, Ðà Nẵng, đoàn 11, 72 đóng tại Ðà nẵng, đoàn 75 đóng trên Pleiku và đoàn 68 tại Saigon. Các toán trong đoàn công tác được huấn luyện xâm nhập bằng hàng không hay đường bộ vào lòng địch tại Bắc Việt hay ngoại biên Lào, Miên hoặc Thái Lan. Sở Liên Lạc đóng tại Saigon, chiến đoàn 1 tạiÐà Nẵng, chiến đoàn 2 trên Kontum và chiến đoàn 3 tại Ban Mê Thuột. Các toán thuộc sở Liên Lạc xâm nhập vào hậu tuyến địch từ vĩ tuyến 17 trở vào cho đến mũi Cà Mau. Sở Phòng Vệ DuyênHải đóng tại Tiên Sa, Ðà Nẵng gồm Lực lượng Hải Tuần thuộc Hải Quân Việt Nam, xử dụng thuyền máy PCF, PT có tốc độ nhanh, hỏa lực mạnh để hoạt động phiá bắc hải phận vĩ tuyến 17. Lực lượng Biệt Hải được huấn luyện thành các toán Người Nhái để xâm nhập vào Bắc Việt bằng đường biển.

Sở Tâm Lý Chiến đóng tại số 7 đường Hồng Thập Tự, Saigon tổ chức và điều hành đài Tiếng Nói Tự Do và đàiGươm Thiêng Ái Quốc. Ngoài ra sở TLC còn có nhiệm vụ gửi cán bộ ra Bắc hoạt động trong lãnh vực tâm lý chiến. Sở Không Yểm đóng tại Saigon thuộc Không Quân Việt Nam để phối trí phi đoàn trực thăng 219, phi đoàn quansát 110 tại Ðà Nẵng trong việc xâm nhập, liên lạc, hướng dẫn và triệt xuất các toán hoạt động trong lòng địch. Trung tâm huấn luyện Quyết Thắng tại Long Thành, Biên Hoà huấn luyện về chiến tranh ngoại lệ cho các toán, các phương pháp xâm nhập vào đãt địch, hoạt-động nơi hậuphương địch, du kích chiến, ám sát, bắt cóc, phá hoại, chiến tranh tâm lý v.v...

Vì lý do bảo mật, tuy cùng đơn vị, nhiều quân nhân NKT không được phép tiếp xúc hay tìm hiểu nhiệm vụ của một số chiến hữu khác. Các cơ quan, đơn vị NKT đồn trú trên khắp bốn vùng chiến thuật hạn chế tối đa sự liên lạc với các cơ quan quân, dân, chính điạ phương. Vì vậy ít người biết về NKT hoặc chỉ biết mà không hiểu rõ về các hoạt động của NKT. Quân nhân, dân sự được tuyển chọn về NKT đều trải qua một cuộc điều tra tỉ mỉ về quá khứ và liên hệ. Tãt cả đều thuộc thành phần tình nguyện, các chiến sĩ NKT khi nhận nhiệm vụ đều thấu hiểu rằng đó là công tác gian nan nguy hiểm, khi ra đi ít hy vọng trở về an toàn. Bao nhiêu chiến sĩ đã hy sinh trên khắp vùng rừng núi Bắc Việt, ngoại biên và trong lãnh thổ VNCH.

Những chiến công oanh liệt, những thành quả tối quan trọng, các chiến sĩ thuộc NKT chỉ được khen thưởng, tuyên dương âm thầm, kín đáo trong đơn vị. Trải qua 20 năm hoạt động, qua nhiều cấp chỉ huy, giám đóc, đường lối hoạt động của NKT cũng có phần ảnh hưởng bởi các thay đổi trong các cấp lãnh đạo và diễn biến chính trị quốc tế về Việt Nam. Nha Kỹ Thuật đã nhiều lần thay đổi về cơ cấu tổ chức và các hoạt động, tuy nhiên các chiến sĩ NKT luôn luôn vì Tổ Quốc sẵn sàng hy sinh, nêu cao tinh thần phục vụ cho Tự Do, cho Lý Tưởng.

Trần bá Tuấn, K.B.C. số 9, 1988
Ngày Quân Lực 1996

Nha Kỹ Thuật / Việt Báo Online


Sở khai thác địa hình trực thuộc Phủ Tổng-thống do đ/tá Lê quang Tung làm chỉ huy trưởng, chịu trách-nhiệm nhiều công-tác tình-báo quốc-nội và quốc-ngoại quan-trọng dưới sự chỉ-đạo trực-tiếp của ông cố-vấn Ngô đình Nhu và Tổng thống Ngô đình Diệm. Trong các cơ-cấu tình-báo này có phòng 45 hay phòng E đặc-trách thu-thập tình-báo phía bắc vĩ-tuyến 17. Phòng E sau này được gọi là Sở Bắc. Yểm-trợ tài-chánh và kỹ-thuật là cơ-quan Combined Studies (vỏ bọc của CIA) thuộc toà đại sứ Hoa-kỳ tại Sàgòn

Ðầu năm 1963. Sở khai thác địa hình đổi thành Bộ tư-lịnh lực lượng đặc biệt gồm hai đơn-vị : Liên-đoàn 77 và Liên-đoàn 31, đ/tá Lê quang Tung là vị tư-lịnh đầu tiên, trong khi đó Sở Bắc vẫn do CIA yểm-trợ, đ/tá Tung bị thảm-sát trong chính biến 1/11/63. Sau đó BTL/LLÐB được dời ra Nha trang và Sở Bắc được cải danh thành (sở khai thác) SKT/BTTM và vẫn tiếp-tục duy-trì các công-tác đặc-biệt, tách rời khỏi LLÐB, vị chỉ-huy trưởng đầu tiên là đ/tá Trần văn Hổ. Sau này trong chiến dịch Switching back, CIA bàn giao Sở khai thác lại cho MACV-SOG.

Ngoài các toán tình-báo dài hạn xâm nhập miền Bắc bằng cách nhẩy dù hay đổ bộ bằng đường biển hoặc các công-tác biệt-hải tập-kích, đánh phá các mục-tiêu dọc theo duyên-hải Bắc-Việt. Sở khai thác còn tổ-chức các toán thám-sát ngắn hạn hoạt-động vùng biên-giới Lào Việt nằm phía Bắc vĩ-tuyến 17 đến vĩ-tuyến 20 được gọi là các toán STRATA gồm các toán dân tộc thiểu số, dân sự chiến đấu và các quân nhân của đoàn 11 và đoàn 68. Cũng trong thời-gian này SOG huấn-luyện các toán thám-sát cho hành quân Shining Brass tại căn-cứ Long-Thành.(Sở liên-lạc) SLL/BTTM được thành lập trong thời gian này, đảm nhận công-tác ngoại biên Việt, Miên, Lào, các toán này mang danh chung là Lôi-Hổ có nhiệm-vụ thám-sát, phá-hoại các mục-tiêu trọng yếu của địch, chỉ điểm mục-tiêu cho phi-cơ oanh-kích, bắt cóc quân địch đem về khai thác, giải thoát tù-binh, hoặc tiếp-cứu phi công khi lâm nạn. Vị chỉ-huy trưởng đầu tiên là đ/tá Hồ-Tiêu gốc từ Sư-đoàn dù. Sau đó SLL được tiếp-tục chỉ-huy bằng các chỉ-huy trưởng từ nhẩy dù qua. Các cuộc hành quân thám-sát biên-giới phát-triển mạnh mẽ vào các năm 1966 đến 1972, dưới quyền chỉ-huy sau đó của các đ/tá Liêu quang Nghĩa, đ/tá Nguyễn văn Minh và đ/tá Nguyễn minh Tiến.

Sở liên-lạc có bộ chỉ-huy ở Sàigòn và 3 chiến-đoàn :CÐ1(CCN) Ðà nẵng, CÐ2 (CCC) Kontum, CÐ3(CCS) Ban mê Thuột. Mỗi chiến-đoàn có nhiều toán, các toán mang tên các tiểu-bang Hoa-kỳ, trừ các toán ở CÐ3 mang tên các vật dụng như Cưa, Búa ( RT Saw, RT Hammer v.v..). Qua năm 1972 lần lượt đều được đổi qua tên Việt.

Các toán Lôi-Hổ được tổ-chức, huấn-luyện hành quân theo kỹ-thuật của LLÐB, sự khác biệt là các toán Lôi-Hổ hoạt-động ngoại biên, ngay trong lòng địch.

Năm 1966. Sở khai thác cải danh là Sở kỹ-thuật và sau đó được nâng lên thành Nha kỹ-thuật. Lúc bấy giờ NKT có những đơn-vị sau đây : Sở liên-lạc, Ðoàn 11và Ðoàn 68 (sở công tác sau này), Sở không yểm, Sở phòng vệ duyên-hải, Trung tâm huấn-luyện Quyết Thắng (Long thành), Sở tâm-lý chiến.

Sở công tác sau này được thành lập với 2 đoàn 11 vá 68. Sau khi LLÐB giải tán, các sĩ-quan cán bộ cùng toán viên được chuyển qua thành lập các đoàn 71, 72, và 75. Thời gian đầu bộ chỉ-huy đồn trú ở Nha trang sau dời ra Ðà nẵng. Ðoàn 11, 71, 72 đồn trú tại Ðà nẵng, Ðoàn 75 tại Kontum, Ðoàn 68 đóng ở Sàigòn gần bộ chỉ-huy của Nha.

Kể từ năm 1972 vì thiếu phương tiện yểm-trợ và CS đã công khai đem quân vào miền Nam, địa bàn hoạt động của NKT/BTTM được thu hẹp lại, các đoàn và chiến-đoàn công tác được tăng phái cho các Quân-đoàn và thực hiện những cuộc thám sát nội biên sau hậu-tuyến địch. Vị chỉ-huy trưởng đầu tiên của Sở công tác là đ/tá Ngô thế Linh,kế đó là đ/tá Trần văn Hai, rồi đ/tá Ngô xuân Nghị.

Ðể yểm-trợ cho SLL và SCT có Sở không yểm, liên-lạc với KQ xin cung- cấp phương-tiện xâm nhập, triệt xuất và yểm-trợ. Phi-đoàn 219 xử-dụng trực thăng H-34 đồn trú ngoài Ðà nẵng thường xuyên tăng phái cho NKT, phi đoàn trưởng là tr/tá Ðặng văn Phước tự Phước đạn đồng, sau này ông lên đ/tá và là Không-đoàn trưởng Không-đoàn 51 chiến-thuật của Sư-đoàn 1 KQ. Sau năm 1972 phi-đoàn 219 chuyển qua UH1-B và rời về Nha trang, số H-34 khiển-dụng được trao lại cho không lực hoàng gia Lào. Những phi-vụ tối ư đặc-biệt ngoài khả-năng của KQVN đều do Không lực Hoa-kỳ đảm trách, đôi khi phát xuất từ các căn-cứ trên lãnh thổ của đệ tam quốc-gia. Chỉ-huy trưởng Sở không yểm là đ/tá Dư quốc Lương.

Công tác hải-vận và biệt hải được giao phó cho Sở phòng vệ duyên-hải đồn trú ở bán đảo Sơn trà, Ðà nẵng, chỉ-huy trưởng là tr/tá Hồ văn Kỳ Thoại, sau này được thăng Ðề-Ðốc. Sau hiệp-định Ba Lê, hoạt-động sở này bị giảm thiểu và sau đó cũng dùng để tăng phái cho các Quân-đoàn để thi-hành công tác sau hậu-tuyến địch trong nội địa miền Nam.

Sở tâm lý chiến có hai đài phát thanh : Tiếng nói tự do và Gươm thiêng ái-quốc, phát thanh ra miền Bắc qua hai đài phát tuyến Cồn Tè ở Quảng Trị và Thanh Lam tại Huế. Sau này đài Gươm thiêng ái-quốc được thay thế bằng đài Mẹ Việt-Nam.

Ð/tá Hổ làm giám-đốc NKT/BTTM từ năm 1964 đến tháng 8/1968. Sau đó đ/tá Ðoàn văn Nu thay thế cho đến ngày cuối cùng của NKT.

Biệt Kích Nhảy Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (bai III)

Biệt Kích Nhảy Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (bai III)

Hình bên: Toán Swan trong “Nhà An Toàn” tại Sài Gòn năm 1962. Từ trái, BK Nông Công Ðịnh, (toán trưởng tử trận), BK Lý A Nhì (hiện cư ngụ tại Dallas Fort Worth, Texas), BK Ðàm Văn Ngô (truyền tin), BK Ðàm Văn Tôn (tử trận), BK Nông Văn Hính (toán phó kiêm truyền tin, hiện cư ngụ tại Westminster, California). Còn thiếu một toán viên, không có trong hình là BK Mã Văn Ban (bị tử hình). (Hình: Biệt Kích Nhảy Bắc cung cấp)

Bài III: Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật, nơi phát sinh những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc.

Nguyên Huy/Người Việt

Có thể nói những hoạt động của Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật-Bộ Tổng Tham Mưu-Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là nơi đã phát sinh ra những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc. Ðó là một bộ phận gồm nhiều quân nhân, phần lớn là sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Công tác chính yếu của các sĩ quan này là đi tuyển mộ, lập thành những toán để được huấn luyện, thực hiện các chuyến hành quân thả người ra Bắc, theo dõi và điều hành công tác với những toán đã thả, lập chương trình thu hồi toán sau một thời gian được qui định (ngắn hay dài hạn).

Về việc tuyển mộ, các sĩ quan trưởng công tác thường xuyên liên lạc với các đơn vị trong quân đội, phòng hay ban quản trị để lục tìm hồ sơ các chiến sĩ, sĩ quan có đủ điều kiện gia nhập công tác. Những tiêu chuẩn thường là người miền Bắc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số, những người theo Công Giáo, còn gia đình hay thân nhân ở lại ngoài Bắc sau năm 1954. Mặt khác, các sĩ quan trưởng công tác cũng nhờ các nhân sĩ trong cộng đồng sắc tộc, các nhà hoạt động chính trị, các vị linh mục giới thiệu cho những ai có lòng với đất nước và dân tộc. Sau khi được giới thiệu rồi, thường các sĩ quan trưởng công tác phải mất một thời gian làm quen, dọ ý các đối tượng. Sau khi đã biết chắc đối tượng thỏa thuận cộng tác, các đối tượng sẽ được chuyển về một nơi để làm thủ tục gia nhập.

Về việc huấn luyện, sau khi hoàn tất thủ tục, đối tượng được chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng ở Long Thành để được huấn luyện về nhiều môn (thường là 9 môn) trong đó có nhảy dù ngày và đêm, trèo cây, học sử dụng vũ khí (vũ khí từ các nước Tây Âu, tuyệt đối không có vũ khí do Hoa Kỳ sản xuất), học về mưu sinh, thoát hiểm, học về truyền tin và học về tâm lý chiến (cách thực hiện truyền đơn thạch bản, cách thả truyền đơn bằng súng phóng...). Sau một thời gian được huấn luyện, các chiến sĩ biệt kích được chuyển vào Khu Cấm ở Long Thành chờ ngày xuất phát. Kể từ giờ phút này, người chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc không còn được có một liên lạc nào với bên ngoài. Chỉ một người duy nhất được tiếp xúc là sĩ quan trưởng công tác.

Từ lúc được tiếp xúc đến khi đi công tác, người lính Biệt Kích Nhảy Bắc thường phải qua một thời gian tương đối là một năm. Có toán kéo dài đến hai năm hay hơn và có thể sau cùng hủy bỏ, giải tán luôn, tùy theo tình hình và tin tức tình báo, an ninh. Cho đến thời gian vào Khu Cấm, những người lính Biệt Kích Nhảy Bắc luôn luôn tràn đầy nhuệ khí chiến đấu, công tác. Lý tưởng của tuổi trẻ lúc nào cũng rõ ràng trong tâm trí. Nhiều người cho biết rất nôn nóng được thả về quê hương bản quán, gặp lại người thân, bà con chòm xóm đã xa cách nhau 2, 3 năm trời kể từ khi di cư.

Họ mong muốn tạo được một phong trào nổi dậy chống độc tài Cộng Sản, mang lại cho bà con thân thuộc của họ cuộc sống ấm no như ở trong Nam. Họ vốn là những thành phần trẻ trong quân ngũ, nhiều người còn chưa rời khỏi ngưỡng cửa gia đình. Những phong trào chống Cộng mạnh mẽ được phát động trong dân chúng dưới thời chính phủ Ngô Ðình Diệm đã xây đắp cho họ lý tưởng, cho họ thấy được và hiểu được sự độc tài khát máu của chế độ Cộng Sản. Họ đã có được sự căm thù và họ cũng có được vị lãnh tụ anh minh là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm kiên quyết chống độc tài Cộng Sản. Nhiều người đã cương quyết ra đi chỉ vì lãnh tụ này. Nên khi cuộc chính biến ngày 1 Tháng Mười Một, 1963, nổ ra, chính phủ Ngô Ðình Diệm bị lật đổ, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị thảm sát thì một số lớn các toán đã từ chối không lên đường ra Bắc nữa vì, theo họ: “Chúng tôi ra Bắc chiến đấu vì tổng thống, nay tổng thống không còn, thì chúng tôi không đi nữa”. Ðó là các toán của trưởng công tác, Ðại Úy Michel vào đầu năm 1964.

Ðể tạm thời giải quyết vấn đề gần như “lãng công” trên, Sở Công Tác đưa một sĩ quan trẻ ngành tâm lý chiến mới ra trường xuống trung tâm Long Thành tìm cách làm yên lòng những người chống đối. Quả là một công việc ngoài sức của một chuẩn úy mới ra trường trong ngành tâm lý chiến. Nhưng may mắn làm sao, sau một buổi nói chuyện trong Khu Cấm, người sĩ quan trẻ tuổi này đã tạm thuyết phục được số anh em biệt kích chống đối.

Người sĩ quan này đã lý luận rằng: “Chúng ta chiến đấu cho đất nước Việt nam, cho dân tộc miền Bắc thoát khỏi gông cùm Cộng Sản chứ không phải chiến đấu vì một người, một chính phủ nào. Những chế độ chính trị, những chính phủ ví như những bộ áo khoác ngoài cho thân thể. Thân thể là quốc gia, là dân tộc. Thể chế chính trị, các chính phủ chỉ như những bộ áo quần khoác ngoài thân thể. Nên chính phủ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị lật đổ nay thay bằng một chính phủ khác để cho được hợp lòng dân hơn cũng ví như chúng ta thay bộ quần áo mát khi Mùa Ðông đã hết, thì mục đích chiến đấu của chúng ta là quốc gia, là dân tộc vẫn còn đó có thay đổi gì đâu.”

Lý luận đó đã khiến nhiều anh em biệt kích suy nghĩ lại và sau cùng đã nhận lên đường.

Do từ nhu cầu của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ mà Bộ Trưởng Mc Namara quan niệm rằng: “Phải có một chiến dịch lớn hơn bằng cách tung thật nhiều toán biệt kích ra Bắc” nên công việc tổ chức Biệt Kích Nhảy Bắc được hai phía Việt-Mỹ khai triển mạnh. Trong khi đó, tác giả Richard H. Schultz, trong cuốn “Secret War Against Ha Noi,” cho biết rằng Trung Tá Ed Partain, chỉ huy chiến dịch OP 34, “chưa được chuẩn bị sẵn sàng để chỉ huy công tác này” mặc dù ông ta là một sĩ quan ưu tú, tốt nghiệp từ quân trường nổi tiếng Westpoint của Hoa Kỳ. Vẫn theo Schultz trong cuốn sách trên thì cả những sĩ quan sau đó là Trung Tá Reginald Woolard và Robert Mc Lane cũng đều “không có chút kinh nghiệm gì về hoạt động này”. Còn về phía Việt Nam, khi người Mỹ muốn “xê ra để tao chống Cộng”, người Mỹ đã nắm hầu bao thì phía Việt Nam dù có kế hoạch hay ý kiến thay đổi gì cho phù hợp với tình hình thực tế miền Bắc trong nanh vuốt Cộng Sản, cũng khó lòng mà thực hiện được.

(Còn tiếp)

Ngày mai, Bài IV: Những hoạt động của Biệt Kích Nhảy Bắc được ghi nhận qua một số tài liệu đã được bạch hóa.

Bài II: Chiến Sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc từ đâu mà ra


Những chiến sĩ biệt kích thuộc Toán Strata trước ngày xâm nhập ra Bắc vào Tháng Mười Một, 1967. (Hình: Biệt Kích Nhảy Bắc cung cấp)
Bài II: Chiến Sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc từ đâu mà ra

Nguyên Huy/Người Việt

Nơi tuyển mộ, huấn luyện, đào tạo những người chiến sĩ can trường Biệt Kích Nhảy Bắc là Nha Kỹ Thuật, hậu thân của Sở Kỹ Thuật có tiền thân là Sở Bắc trong thời Ðệ I VNCH.

Sự thành lập cơ quan “tình báo chiến lược” của VNCH này phát xuất từ giới lãnh đạo thượng đỉnh Hoa Kỳ, thời chính phủ Kennedy. Theo những tài liệu đã được bạch hóa thì vào năm 1962, Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy quyết định chuyển giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động bí mật chống Hà Nội từ CIA sang cho Bộ Quốc Phòng. Một đơn vị đặc biệt của Lầu Năm Góc được giao phụ trách và được trực tiếp chỉ huy bởi Chủ Tịch Tham Mưu Liên Quân. Tổ chức trực tiếp thi hành tại Việt Nam là cơ quan SOG trong MACV. Thế có nghĩa là hoạt động chiến tranh bí mật chống Hà Nội trước đó do CIA thực hiện thì nay được chuyển sang Bộ Quốc Phòng, quân sự hóa hoạt động tình báo này.

SOG có bốn nhiệm vụ là:

- Cài các toán gián điệp và chỉ đạo các toán ấy làm sao để tạo ra một chiến dịch nghi binh phức tạp trong đó có cả việt tuyển mộ tù binh của quân đội Bắc Việt Nam.

- Thực hiện chiến tranh tâm lý chống miền Bắc bằng cách dựng nên một phong trào chống đối giả ở Bắc Việt Nam, bắt cóc và tuyên truyền công dân Bắc Việt Nam, điều hành các đài phát thanh đen, phân phát các tài liệu tuyên truyền, viết giả các lá thư và các tài liệu giả hiệu khác.

- Trên biển: Bắt giữ và phá hủy các tàu hải quân và thuyền đánh cá của Bắc Việt Nam (các hợp tác xã ven biển) đồng thời tập kích phá hoại các cơ sở quân sự và dân sự cũng như rải các truyền đơn, tài liệu chống phá chính quyền CSBV.

- Rải các toán thám báo người dân tộc tại biên giới Lào-Việt, phá hoại đường mòn Hồ Chí Minh để ngăn cản hoạt động hậu cần của Bắc Việt cho những đơn vị bộ đội thẩm nhập vào Nam. Hoạt động thám báo này bao gồm luôn việc xác định mục tiêu không kích, bắt cóc bộ đội, đặt máy nghe trộm và rải các tài liệu chiến tranh tâm lý.

Theo một số tài liệu được kê ra trong các cuốn “Secret Army, Secret War” và “Secret War Against Hanoi” của hai tác giả Sedgwick Tourison và Richard H. Shultz thì “các chính quyền Kennedy và Johnson muốn gây áp lực với Hà Nội và làm đúng những gì mà họ đang thực hiện đối với đồng minh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam”.

Ðối với người Việt Nam, nhất là những người di cư từ miền Bắc, ai cũng hiểu rằng, trước sau gì rồi Cộng Sản Bắc Việt cũng phải tìm cách đánh phá miền Nam trong ý đồ nhuộm đỏ Ðông Nam Á mà cộng sản quốc tế giao phó cho Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam. Bởi vì, ngay từ thời gian cuối năm 1954, khi phong trào di cư rầm rộ nổ ra với gần cả triệu người bỏ miền cộng sản về vùng quốc gia thì CSBV đã tung ra chiến dịch được gọi là “Chiếu cố miền Nam” gài những điệp viên vào hàng ngũ di cư đồng thời gài những cán bộ ở lại miền Nam, chỉ đưa ra Bắc một phần sau khi những người trong phần này đã dan díu tình cảm cụ thể với những thiếu nữ trong vùng họ hoạt động cốt để lại những cái “nhân” để sau này dễ bề “liên hệ” trong tình cảm gia đình.

Quả nhiên, sau năm 1956, chính phủ miền Nam không thực hiện việc hiệp thương vì không ký kết vào hiệp ước chia đôi đất nước, CSBV đã phát động ngay việc phá hoại miền Nam, một mặt đổ quân vào miền Nam hình thành đường dây 559, tức đường mòn Hồ Chí Minh. Mặt khác thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam vào Tháng Mười Hai năm 1960 để lừa dối dư luận thế giới. Sự lừa dối này không chỉ có kết quả với thế giới mà ngay với người Việt ở miền Nam cũng làm cho nhiều người tưởng thật. Khi đến khi cộng sản toàn thắng ngày 30 Tháng Tư, 1975, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và chính phủ Cộng Hòa Miền Nam đã bị CSBV giải tán ngay.

Ðó là lý do các chính phủ Kennedy và Johnson thành lập và tiến hành cuộc chiến tranh “bất quy ước”, cuộc chiến tranh bí mật chống lại CSBV. Kế hoạch được vạch ra mang tên là 34A (viết tắt của chữ OPLAN 34) bao gồm tới 72 loại hoạt động với tổng số là 2,026 điệp vụ thực hiện trong năm 1964.

Kế hoạch được vạch ra nhưng để thực hiện thì gặp phải khó khăn là “không tìm ra người phụ trách có đủ tiêu chuẩn”. Ðó là chưa kể đến sự “miễn cưỡng bàn giao” của CIA về trách vụ này cũng như về phía đối tác là Quân Lực VNCH.

Tiêu chuẩn là gì? Ðó là những hiểu biết về đất nước và con người Việt Nam, về cộng sản đã luồn sâu được vào tâm trí người dân Việt qua chiến thắng Ðiện Biên Phủ. Trong khi phía CIA đã nhận được ra rằng, “Xã hội ở Bắc Việt Nam được tổ chức chặt chẽ, không có ai được nằm ngoài tổ chức. Ðó là một xã hội phải sống trong kỷ luật và chúng ta phải thực hiện các hoạt động chống lại họ...” (Lời nhận xét của Giám Ðốc CIA William Colby). Trong khi đó thì Bộ Quốc Phòng, với McNamara thì cho rằng, CIA đã rụt rè không dám hành động và chủ trương rằng phải làm một chiến dịch lớn hơn bằng cách tung thật nhiều toán biệt kích ra Bắc.

Và những toán biệt kích nhảy Bắc được hình thành nhanh chóng.

(Còn nữa) Ngày mai, Bài III, Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật, nơi phát sinh những chiến sĩ biệt kích nhảy Bắc.

Biệt Kích Nhảy Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (Tiếp theo và hết)

Biệt Kích Nhảy Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (Tiếp theo và hết)
Friday, July 06, 2007


Toán Hadley chụp hình tại Trung Tâm Huấn Luyện Long Thành. (Hình: Biệt Kích Nhảy Bắc cung cấp)

Nguyên Huy/Người Việt

Bài V: Một vài suy nghĩ về những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc

Trong bút ký “Bè bạn gần xa” của ký giả Lô Răng, tức cựu Trung Tá Phan Lạc Phúc, một ký giả tên tuổi trong làng báo Việt Nam trước năm 1975, ông đã viết về những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc mà ông gọi là biệt kích dù như sau: “Chúng tôi đi cải tạo sau Tháng Tư đen năm 1975, dù đớn đau khổ nhục đến đâu vẫn có tên, có tuổi, hàng tháng, hằng quý vẫn còn liên lạc được với gia đình. Anh em, bè bạn ở nước ngoài vẫn còn để mà theo dõi. Những anh em biệt kích dù thì đúng là “thượng diệt, hạ tuyệt”, không có quân bạ, quân số, không có tên tuổi nào được đăng ký, không có chính phủ nào, quân đội nào công nhận có những con người ấy ở dưới tay. Không được liên lạc với ai, coi như không còn hiện diện trên trái đất. Ở trên trời rơi xuống Bắc Việt vào đầu thập niên 1960 thời Ðệ I Cộng Hòa, những anh em biệt kích dù đã tham dự một cuộc chiến tranh tối mật (secret war). Những người tình nguyện tham gia cuộc chiến này đã tự coi như mình đã chết. Nhảy xuống, tìm được địa bàn hoạt động, trà trộn được, ẩn dấu được là sống là thi hành xong nhiệm vụ, nếu bị lộ, bị bắt, bị giết thì ‘anh tự lo liệu cho cái thân anh, không có cơ quan nào, tổ chức nào đứng ra can thiệp hay bảo trợ cho anh được.’ Những người từ ‘đứt dây rơi xuống’ này không được hưởng chút quyền lợi nào từ Quy Chế Tù Binh (Geneve). Các cơ quan nhân đạo quốc tế như Hội Hồng Thập Tự, Hội Ân Xá Quốc Tế cũng không biết làm sao can thiệp vì các anh đâu có quân bạ, quân số, đâu có tên có tuổi được đăng ký hợp pháp ở một chính phủ nào.”

Những nhận định của ký giả Lô Răng quả là chính xác và đúng thực tế về “thân phận” người lính Biệt Kích Nhảy Bắc.

Họ có được biết không?

Chắc chắn là có. Bởi khi được tuyển mộ, họ đã được các sĩ quan trưởng công tác cho biết nhiều lần tùy từng giai đoạn để không bị tiết lộ bí mật quốc phòng. Ngay cả trước khi vào khu cấm họ vẫn có quyền từ chối công tác, chỉ phải chịu một vài biện pháp về an ninh để bảo vệ an toàn cho toán.

Vậy thì lao vào chốn hiểm nguy có phải vì quyền lợi vật chất dành cho người lính can trường này không? Cũng không. Vì ngoài một số tiền thưởng lúc gia nhập (giống như tiền đầu quân thuộc các đơn vị khác) là 15,000 đồng VNCH (vào thời điểm đó một tô phở giá 5 đồng), những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc cũng chỉ được ăn lương theo như các đơn vị khác của Nha Kỹ Thuật.

Không thể phủ nhận được lý tưởng của những người chiến sĩ này. Họ ra đi vì mong cho người dân, đồng bào của họ thoát được ách cộng sản và có được cuộc sống no ấm như ở miền Nam.

Chuyện ấy không phải là lý thuyết, là tôn xưng tâm lý chiến, là sự vinh danh quá lời. Thực tế, khi họ bị sa cơ, bị bắt, bị cầm tù, bị tra khảo, cực hình nhưng hầu hết họ vẫn can trường, vẫn giữ được lập trường, không đầu hàng địch, không làm tay sai cho địch.

Viết về tinh thần này, ký giả Lô Răng nhận xét: “Trên thực tế, anh em biệt kích dù suốt 20 năm tù đày gian khổ, vẫn tuân hành tuyệt đối mệnh lệnh của vị chỉ huy của họ, Ðại Úy Nguyễn Hữu Luyện. Ðây là một con người huyền thoại. Chúng tôi nghe đến tên anh từ lâu nhưng chưa bao giờ được gặp, vì anh không đi lao động ở ngoài...”

“Ðây là người tù sau 20 năm bị bắt vẫn còn tuyên bố: ‘Tôi Nguyễn Hữu Luyện, đại úy QLVNCH... tôi chưa thua các anh. Tôi mới thua một trận, chưa thua cuộc chiến này.’”

Trong tập “Sơ Lược Kỷ Yếu” Biệt Kích Nhảy Bắc có đoạn kể rằng: “Từ những ngày còn ở trong nhà tù cộng sản, Biệt Kích Nhảy Bắc đã mang một nếp sống ‘lá lành đùm lá rách,’ biết bảo nhau, biết nghe nhau. Những nét vàng son đó đã được cán bộ coi tù tại các trại ghi nhận là nguy hiểm và áp dụng nhiều biện pháp ngăn chặn, nhưng Biệt Kích Nhảy Bắc vẫn thầm lặng duy trì nếp sống riêng của mình.”

Với người viết loạt bài này, khi đi tù cải tạo ở ngoài Bắc, tôi đã có thời gian cùng chung trại tù với một số Biệt Kích Nhảy Bắc, đó là trại Thanh Lâm vào năm 1978. Nhiều anh em Biệt Kích Nhảy Bắc lúc này đã được cộng sản “thả lỏng” và được gọi là “công nhân.” Bởi sau trên dưới 20 năm trong ngục tù cộng sản, anh em hoàn toàn mất liên lạc với gia đình nên khi được thả cũng không biết về đâu và cứ nấn ná quần tụ lại với nhau ngoài trại tù trở thành những “công nhân” bất đắc dĩ cho bọn cán bộ coi trại.

Qua đôi lần được tiếp xúc lén lút, chúng tôi nhận thấy tinh thần anh em còn rất cao mặc dù nhiều người chỉ có trình độ nhận thức tiểu học. Họ vẫn một niềm kính trọng các anh em sĩ quan, dù chúng tôi có yêu cầu họ coi chúng tôi như anh em đồng tù. Tuy vậy, đối với những ai tỏ vẻ thân thiện hoặc cam tâm làm tay sai cho bọn cán bộ trại là họ phản ứng khinh miệt ra mặt.

Trại Thanh Lâm có 10 cựu quân cán chính cao cấp của VNCH trong đó có cựu Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, được cộng sản coi như thuộc “ban quản trị” của trại mà cộng sản gọi là Công Trường Thanh Lâm để lừa dối cơ quan Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) viện trợ cho dụng cụ và thực phẩm. Mười vị quan chức này được ở riêng trong một căn nhà lá bên ngoài trại gần khu cán bộ coi trại. Anh em biệt kích đã không ngớt nhắn gởi cho họ rằng: “Chỉ xin các vị giữ lấy tư cách làm người, chẳng cần phải là tư cách của một sĩ quan cao cấp hay một công chức thuộc hàng lãnh đạo.”

Thái độ của anh em biệt kích ở trại Thanh Lâm, khoảng 30 người, đã làm chúng tôi hết lòng nể phục, nhất là anh em lại hay nhắc nhở đến người sĩ quan mà họ coi là lãnh đạo, Ðại Úy Nguyễn Hữu Luyện đang trong kiên giam tại trại Thanh Phong, cách Thanh Lâm mấy chục cây số đường rừng.

Nhắc lại chuyện người lính Biệt Kích Nhảy Bắc, qua một vài cuốn sách người Mỹ viết và qua những hồi ức một thời có liên quan đến công tác này, lòng tôi chợt cảm thấy bùi ngùi xót thương cho, không chỉ thân phận những người lính Biệt Kích Nhảy Bắc, mà chung cho cả những người lính QLVNCH, chung cho cả dân tộc Việt Nam, khi mà nhu cầu phục vụ cho quyền lợi nước Mỹ không cần thiết nữa thì bạn bè đồng minh gì cũng bị bỏ rơi hết mà người lính Biệt Kích Nhảy Bắc là một hình ảnh tượng trưng cụ thể nhất cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Chúng ta, những người lính một thời nói chung và cộng đồng người Việt tị nạn nói riêng không biết có còn nghĩ đến cái “thân phận” ngày nào ấy không mà sao vẫn chưa nắm được tay nhau kết thành một khối để “lá lành đùm lá rách,” bảo ban giúp đỡ nhau như anh em Biệt Kích Nhảy Bắc đã làm được khi còn trong các trại tù của cộng sản suốt mấy chục năm trời. (N.H.)

Lời ghi chú: Hôm nay Thứ Bảy 7 Tháng Bảy, 2007, vào lúc 5 giờ chiều tại nhà hàng Emerald Bay, 5015 V W. Edinger Avenue, Santa Ana, hơn 100 Biệt Kích Nhảy Bắc từ khắp nơi trên thế giới sẽ về họp mặt “lần đầu cũng là lần chót” để cùng nhau làm một cái lễ truy điệu những anh em đã chết trong tù, khi chiến đấu cũng như khi ra tù. Ðồng thời đây cũng là dịp để anh em gặp gỡ hàn huyên chuyện mới chuyện cũ để tìm những thông cảm thương yêu nhau như ngày còn trong ngục tù cộng sản.

Quí độc giả Người Việt có thể đến cùng anh em chung vui một buổi họp mặt hiếm có này.

Presidential Unit Award / MACV-SOG VIET NAM





The well deserved MACVSOG Presidential Unit Citation, awarded April 4, 2001.


MILITARY ASSISTANCE COMMAND, VIETNAM, STUDIES AND OBSERVATION GROUP

24 JANUARY 1964 TO 30 APRIL 1972 and the following assigned or attached units:

U.S. Army: Command and Control Detachment, 5th Special Forces Group, Danang, Republic of Vietnam, 1 January 1965 to 31 December 1968; Special Operations Augmentation, Command and Control North, 5th Special Forces Group, Danang, Republic of Vietnam, 1 January 1968 to 31 December 1971; Task Force One, Advisory Element, U.S. Army Vietnam, Danang, Republic of Vietnam, 1 January 1971 to 30 April 1972; Special Operations Augmentation, Command and Control Central, 5th Special Forces Group, Kontum, Republic of Vietnam, 1 January 1969 to 31 December 1971; Task Force Two, Advisory Element, U.S. Army Vietnam, Kontum, Republic of Vietnam, 1 January 1971 to 30 April 1972; Company E (Provisional), Detachment C-5, 5th Special Forces Group, Ho Ngoc Tao, Republic of Vietnam, 1 June 1967 to 31 October 1967; Project Omega, Detachment B-50, 5th Special Forces Group, Kontum, Republic of Vietnam, 1 June 1967 to 31 October 1967; Project Sigma, Detachment B-56, 5th Special Forces Group, Ho Ngoc Tao, Republic of Vietnam, 1 June 1967 to 31 October 1967; Special Operations Augmentation, Command and Control South, 5th Special Forces Group, Ban Me Thuot, Republic of Vietnam, 1 November 1967 to 1 November 1971; Task Force Three, Advisory Element, U.S. Army Vietnam, Ban Me Thuot, Republic of Vietnam, 2 November 1971 to 30 April 1972; Detachment B-53, 5th Special Forces Group, Camp Long Thanh, Republic of Vietnam, 24 January 1964 to 31 December 1971; Training Center Advisory Element, U.S. Army Vietnam, Camp Long Thanh, Republic of Vietnam, 1 January 1971 to 30 April 1972

U.S. Navy: Naval Advisory Detachment, Danang, Republic of Vietnam; One U.S. Navy EC-121 Aircraft and Crew based at Saigon, Republic of Vietnam.

U.S. Marine Corps: assigned individually to Studies and Observation Group staffs.

U.S. Air Force: 1st Flight Detachment, Nha Trang, Republic of Vietnam, 24 January 1964 to 31 December 1971; 15th Air Commando Squadron, Nha Trang, Republic of Vietnam, 1 January 1966 to 15 November 1968; 15th Special Operations Squadron, Nha Trang, Republic of Vietnam, 16 November 1968 to 15 November 1970; 90th Special Operations Squadron, (less non-Studies and Observation Group Pony Express detachment at Nakhon Phanom AFB, Thailand), Nha Trang, Republic of Vietnam, 1 June 1967 to 31 August 1968; 20th Special Operations Squadron, Nha Trang, Republic of Vietnam, 1 November 1968 to 31 March 1972.

Joint Service: Headquarters, Military Assistance Command, Vietnam – Studies and Observation Group, Saigon, Republic of Vietnam.

South Vietnamese Air Force: 219th Helicopter Squadron, Danang. , Republic of Vietnam

The Studies and Observation Group is cited for extraordinary heroism, great combat achievement and unwavering fidelity while executing unheralded top secret missions deep behind enemy lines across Southeast Asia. Incorporating volunteers from all branches of the Armed Forces, and especially, U.S. Army Special Forces, Special Operations Group’s ground, air and sea units fought officially denied actions which contributed immeasurably to the American war effort in Vietnam. Military Assistance Command, Vietnam – Special Operations Group reconnaissance teams composed of Special Forces soldiers and indigenous personnel penetrated the enemy’s most dangerous redoubts in the jungled Laotian wilderness and the sanctuaries of eastern Cambodia. Pursued by human trackers and even bloodhounds, these small teams out-maneuvered, out-fought and out-ran their numerically superior foe to uncover key enemy facilities, rescue downed pilots, plant wiretaps, mines and electronic sensors, capture valuable enemy prisoners, ambush convoys, discover and assess targets for B-52 strikes, and inflict casualties all out of proportion to their own losses. When enemy counter-measures became dangerously effective, Special Operations Group operators innovated their own counters, from high altitude parachuting and unusual explosive devices, to tactics as old as the French and Indian War. Fighting alongside their Montagnard, Chinese Nung, Cambodian and Vietnamese allies, Special Forces – led Hatchet Force companies and platoons staged daring raids against key enemy facilities in Laos and Cambodia, overran major munitions and supply stockpiles, and blocked enemy highways to choke off the flow of supplies to South Vietnam. Special Operations Group’s cross-border operations proved an effective economy-of-force, compelling the North Vietnamese Army to divert 50,000 soldiers to rear area security duties, far from the battlefields of South Vietnam. Supporting these hazardous missions were Special Operations Group’s own United States and South Vietnamese Air Force transport and helicopter squadrons, along with U.S. Air Force Forward Air Controllers and helicopter units of the U.S. Army and U.S. Marine Corps. These courageous aviators often flew through heavy fire to extract Special Operations Group operators from seemingly hopeless situations, saving lives by selflessly risking their own. Special Operations Group’s Vietnamese navel surface forces – instructed and advised by U.S. Navy SEALS – boldly raided North Vietnam’s coast and won surface victories against the North Vietnamese Navy, while indigenous agent teams penetrated the very heartland of North Vietnam. Despite casualties that sometimes became universal, Special Operations Group’s operators never wavered, but fought throughout the war with the same flair, fidelity and intrepidity that distinguished Special Operations Group from its beginning. The Studies and Observations Group’s combat prowess, martial skills and unacknowledged sacrifices saved many American lives, and provide a paragon for America’s future special operations forces.

[Signed By] Thomas E. White, Secretary of the Army [TAPC-PDO-PA]