<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826</id><updated>2012-02-16T16:51:37.455-08:00</updated><title type='text'>Lịch Sử Nha Kỹ Thuật / Bộ Tổng Tham Mưu / QLVNCH</title><subtitle type='html'>Sở Nghiên Cứu, Khai Thác, Liên Đoàn Quan Sát số 2 Nha Kỹ Thuật Thực Hiện</subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>19</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-2820551055704713305</id><published>2010-05-06T14:20:00.001-07:00</published><updated>2010-07-22T17:07:39.135-07:00</updated><title type='text'>Lịch Sữ Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Lữ Triệu Khanh</title><content type='html'>&lt;script language="JavaScript" src="http://pub16.bravenet.com/counter/code.php?id=405502&amp;amp;usernum=1340045908&amp;amp;cpv=2" type="text/javascript"&gt;&lt;/script&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm3p-Sv6HwI/AAAAAAAAFTY/6hlZd1SxOXs/s1600-h/43375689LBqUxv_ph.jpg" style="color: #660000;"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5363199987662069506" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm3p-Sv6HwI/AAAAAAAAFTY/6hlZd1SxOXs/s400/43375689LBqUxv_ph.jpg" style="cursor: pointer; display: block; height: 400px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 394px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b style="color: #660000;"&gt;NHA KỸ-THUẬT&lt;br /&gt;BỘ TỔNG THAM MƯU&lt;br /&gt;QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mục đính của người viết bài này không ngoài hoài bão cung cấp cho các cựu quân nhân và cựu nhân viên dân chính đã từng phục vụ trong các đơn vị trực thuộc Nha Kỹ Thuật / BTTM / QLVNCH hiện định cư tại Hoa Kỳ cũng như tại các quốc gia khác trên Thế giới Tự Do, một sự hiểu biết tổng quát về sự tổ chức cũng như những hoạt động đặc biệt của đơn vị này.&lt;br /&gt;Vì tính cách đặc biệt về tổ chức và nhiệm vụ của Kỹ Thuật / BTTM, ngay chính những quân nhân phục vụ tại một đơn vị của Nha Kỹ Thuật / BTTM cũng không hiểu rõ về đơn vị này. Do đó, nếu có sự hiểu lầm hay một sự hiểu biết thiếu chính xác của một số đơn vị bạn cũng không phải là một điều ngạc nhiên.&lt;br /&gt;Danh hiệu Nha Kỹ Thuật / BTTM chỉ là một danh hiệu " vỏ bọc " để bảo vệ những hoạt động thực sự đối với Cộng Sản cũng như đối với các đơn vị bạn khác. Nha Kỹ Thuật / BTTM chính thức là Bộ Tư Lệnh Chiến Tranh Ngoại Lệ, ngang hàng với cấp Sư đoàn Tổng Trừ bị do một cấp Thiếu Tướng làm Tư lệnh.&lt;br /&gt;Nha Kỹ thuật / BTTM trải qua rất nhiều lần cải danh và thay đổi về tổ chức và nhiệm vụ, tùy theo sự biến chuyển về tình hình chính trị quốc nội cũng như tình hình quân sự trên chiến trường.&lt;br /&gt;Trước khi đi sâu vào vấn đề này, kẻ viết bài này xin mạn phép trình bày sơ lược về cá nhân và sự liên hệ đối với Nha Kỹ Thuật / BTTM kể từ năm 1961 cho đến ngày chính Thức giải tán đơn vị này vào ngày 28 tháng 4 năm 1975 do khẩu lệnh của Đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng / QLVNCH, trước khi Đại tướng từ chức vụ Tham Mưu trưởng.&lt;br /&gt;Vào cuối năm 1960, trong khi phục vụ tại một đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ Binh đồn trú tại Quảng Trị, tôi đã được lệnh cấp tốc trình diện Phủ Tổng Thống. Thật là một ngạc nhiên to lớn đối với một cấp úy nhỏ như tôi. Sau khi được đơn vị trưởng cấp sự vụ lệnh, tôi được một vị đại diện Phủ Tổng Thống từ Huế ra đón và đưa thẳng về Đà nẵng. Tại đây, tôi lại được một đơn vị khác tiếp xúc, bắt tôi thay thường phục và đưa ra phi trường đáp phi cơ Air Việt Nam về Saigon. Tại Phi trường Tân sơn nhất, tôi lại được một đơn vị khác đón và đưa về một căn nhà tại khu Tân Định, nằm trong một ngõ hẹp. Dù tôi có ý gợi chuyện trong lúc đi đường, các vị này đều có vẻ huyền bí và rất ít nói chuyện. Tại căn nhà này, tôi lại càng ngạc nhiên hơn vì lần đầu tiên tôi được gặp và giới thiệu với một số nhân viên Hoa Kỳ. Tôi không biết các vị này cả Việt lẫn Mỹ, thuộc đơn vị hay cơ quan nào. Tôi cũng chưa biết vị chỉ huy tôi là ai, quân nhân hay dân sự. Một nhân viên Hoa kỳ có vẻ ngạc nhiên về khả năng Anh văn của tôi. Tôi cho ông ta biết là tôi đã tốt nghiệp khóa 6 tháng thông dịch viên Anh ngữ tại Hội Việt Mỹ vào đầu năm 1958.&lt;br /&gt;Tôi muồn nhắc đền sự việc này vì nhờ sự hiểu biết về anh văn mà tôi được giữ những chức vụ có liên quan đến việc tiếp xúc với cơ quan Tình báo Hoa Kỳ sau này. Vì nhân viên Hoa Kỳ này cho tôi biết là ngày hôm sau tôi sẽ được tham dự khóa " Tình báo đặc biệt " do các nhân viên tình báo Hoa kỳ đảm trách hướng dẫn. Người Mỹ gọi là khóa " Clandestine Operation " được huấn luyện cho các nhân viên điệp báo hoạt động tại hậu tuyến địch. Nói tóm lại đây là khóa huấn luyện gián điệp. Tôi có hỏi sau khóa này tôi sẽ làm gì nhưng không ai xác định gì cả. Họ chỉ cho biết là sau khóa huấn luyện tôi sẽ trở thành một " Case Officer " hay là " Trưởng công tác ". Tên tôi được biến thành Emile, cũng như các học viên khác Leon, Antoinne, Charles .v.v. . . Thật ra các tên tây phương này được đặt ra để giúp cho người Mỹ dễ nhớ trong khi huấn luyện cũng như khi hợp tác làm việc sau này. Ngoài các tên này, chúng tôi được gọi bằng những bí danh khác với mục đích bảo vệ lý lịch, đề phòng đối phương theo dõi trong thởi gian liên hệ với công tác tình báo. Đây chỉ là một trong những nguyên tắc căn bản của ngành điệp báo.&lt;br /&gt;Sau khóa học kéo dài 4 tuần lễ, tôi được các vị huấn luyện viên Hoa Kỳ khen thưởng về sự cố gắng và thông suốt các nguyên tắc của ngành tình báo. Sau đó, tôi được trình diện đầu tiên với vị chĩ huy trực tiếp của tôi là vị Trưởng phòng 45 của Sở Khai thác Địa Hình trực thuộc Phủ Tổng Thống.&lt;br /&gt;Tôi rất mừng rỡ vỉ vị chỉ huy trực tiếp của tôi là Đại Úy BÌNH tức là Đại Úy Ngô Thế Linh mà tôi đã làm dưới quyền tại Phòng III / Quân đoàn I tại Đà Nẵng vào đầu năm 1958. Sự nghiệp quân sự của tôi, giai đoạn có ý nghĩa nhất là bắt đầu khóa học tình báo đặc biệt này cho đến ngày cuối cùng của QLVNCH vào cuối tháng 4 năm 1975. Với hơn 14 năm được phục vụ tại một đơn vị đặc biệt, giữ những chức vụ tuy nhỏ nhoi nhưng được gần gũi với các cấp chỉ huy cao cấp và được sự tin tưởng của các vị này, cũng như các vị cố vấn Hoa Kỳ cao cấp, tôi đã theo dõi và chứng kiến các hoạt động của Nha Kỹ Thuật / BTTM, sự cải danh của nó, từ vị trí của một Phòng sở nhỏ trở thành một đại đơn vị có tầm mức chiến lược quan trọng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự bành trường và lớn mạnh của Nha Kỹ Thuật / BTTM đều tùy thuộc và ảnh hưởng bởi các biến chuyển của tình hình chiến sự quốc nội, tình hình chính trị trên thế giới, đường lối chỉ đạo của Hoa Kỳ đối với chiến cuộc tại Việt Nam và cuối cùng là khả năng hoạt động của các đơn vị thuộc Nha Kỹ Thuật / BTTM.&lt;br /&gt;Những tài liệu trình bày sau đây đều dựa theo trí nhớ của tôi. Do đó, về thời gian và không gian có thể có một vài sự sai lầm nhỏ hoặc một chút thiếu sót. Tôi nghĩ rằng dù nếu có một vài sự thiếu sót, ý nghĩa và mục đích của bài này sẽ không sai lạc và các điểm chính yếu tôi muốn nêu ra vẫn được bảo đảm.&lt;br /&gt;Sở Khai thác Địa hình trực thuộc Phủ Tổng Thống, lúc bấy giờ do Cố Đại Tá Lê Quang Tung là Chỉ huy trưởng. Đơn vị này được giao phó rất nhiều công tác tình báo quan trọng, về quốc nội cũng như quốc ngoại, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trong các cơ cấu tình báo, Phòng 45 hay Phòng E được đặc trách hoạt động thu thập tin tức tình báo tại miền Bắc vĩ tuyến 17, với các hệ thống điệp báo nằm vùng xâm nhập từ Miền NAM hoặc từ Đệ Tam Quốc gia bạn. Tại nội bộ đơn vị, Sở Khai thác Địa Hình cũng được gọi là KHIÊM QUANG, mỗi chữ biểu hiệu cho một Phòng của đơn vị. Phòng E sau này còn được gọi là SB, viết tắt cho Sở Bắc. Kể từ năm 1960 trở đi, hoạt động điệp báo tại miền Bắc được đặc biệt chú trọng vì nhu cầu tin tức chiến lược nhằm ước tính khả năng của Cộng Sản, hầu ngăn chặn mưu đồ xâm lược của miền Bắc.&lt;br /&gt;Để yểm trợ tài chính và kỹ thuật cho các công tác đặc biệt này, cơ quan Combined Studies thuộc Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Saigon được giao phó phối hợp và đảm trách. Công tác tình báo và các hoạt động đặc biệt nhằm đối tượng Cộng Sản đều do cơ quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ cố vấn và tài trợ vì vấn đề kỹ thuật phức tạp và phí tổn to lớn. Cơ quan Combined Studies cung cấp chuyên viên, tin tức tình báo căn bản, các tài liệu và vật dụng cần thiết, cũng như nhu cầu tài chính để hoàn thành công tác.&lt;br /&gt;Vì bài này chỉ giới hạn về tổ chức và nhiệm vụ tổng quát của Nha Kỹ Thuật / BTTM và các tổ chức tiền thân, nên tôi sẽ không đề cập đến chi tiết các hoạt động, cách tổ chức các Toán công tác cũng như thành quả của các Toán này. Tôi mong rằng sẽ có cơ hội trình bày trong những bài kế tiếp.&lt;br /&gt;Vào đầu năm 1963, Sở Khai thác Địa Hình được biến cải thành Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, với hai đơn vị chiến đấu nòng cốt là Liên đoàn 77 và Liên đoàn 31. Đại Tá Lê Quang Tung cũng là vị Tư lệnh đầu tiên của đơn vị này. Sở Bắc vẫn tiếp tục hoạt động và duy trì sự phối hợp với cơ quan Combined Studies của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, trong khuôn khổ tổ chức của Bộ Tư Lệnh LLDB mới thành lập. Sau cuộc chính biến và Cách mạng 1963 và Đại tá Lê quang Tung bị sát hại. Và LLĐB được chỉ huy bởi một số các vị Tướng lãnh và sau đó dời về Nha Trang. Cũng trong thời gian này, Sở Bắc cũng được cải danh là Sở Khai Thác / BTTM và tiếp tục duy trì công tác đặc biệt, tách rời khỏi Lực Lượng Đặc Biệt. Vị Chĩ huy trưởng và Giám đốc đầu tiên của đơn vị này là Đại Tá Trần văn Hổ. Ngoài việc đảm trách công tác văn phòng, liên lạc phối hợp với ban Cố Vấn Hoa Kỳ, tôi vẫn tiếp tục tổ chức các Toán với tư cách Sĩ quan Trưởng Công tác. Một thời gian sau, Đại Tá Hổ chỉ định tôi làm Chánh Văn phòng. Song song với sự cải tổ về phía Việt Nam, Bộ Tư lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam MACV thay thế cho cơ quan Cố vấn Hoa Kỳ MAAG, cũng được thành lập. MACV - SOG là viết tắt của MACV - Studies and Observations Group, nhưng chính danh là Special Operation Group, được chỉ định Cố vấn và yểm trợ cho các công tác đặc biệt.&lt;br /&gt;Ngoài các Toán Tình báo dài hạn xâm nhập Miền Bắc bằng Không vận hay Hải Vận và công tác Biệt Hải tập kích đánh phá các mục tiêu thuộc miền Bắc duyên hải. Sở Khai thác lại được lệnh tổ chức các Toán thám sát ngắn hạn hoạt động tại vùng biên giới Lào Việt nằm phía Bắc vĩ tuyến 17 cho đến vĩ tuyền 20. Các Toán này được gọi là các Toán Strata, viết tắt tiếng Mỹ là Short Term Reconnaisance and Target Acquisition teams. Hai đoàn công tác chính yếu của công tác Không vận lúc bấy giờ là Đoàn 68 đảm trách các công tác dài hạn vá các công tác đặc biệt khác Đoàn 11 phụ trách các công tác ngắn hạn.&lt;br /&gt;Cũng trong thời gian này, vì nhu cầu khẩn cấp của chiến trường, Sở Khai Thác được chỉ thị huấn luyện các Toán Thám Sát đặc biệt mệnh danh là Shinning Brass tại căn cứ huấn luyện Long Thành, sau này gọi là Trung tâm Huấn luyện Quyết Thắng. Sở Liên lạc / BTTM cũng được thành lập trong thời gian này để đảm trách các công tác ngoại biên Việt-Miên và Việt-Lào. Các Toán này mang danh Lôi Hổ có nhiệm vụ thám sát, phá hoại các mục tiêu trọng yếu của địch, cùng công tác chỉ điểm mục tiêu cho các phi vụ không kích hoặc đánh phá xử dụng các lực lượng khai thác (Exploitation Forces ). Vị chỉ huy trưởng đầu tiên là Đại Tá Hồ Tiêu, trước phục vụ tại Sư đoàn Nhảy Dù. Sau đó Sở Liên Lạc được tiếp tục chỉ huy bởi các vị chỉ huy trưởng thuộc Sư đoàn Nhảy Dù. Các cuộc hành quân thám sát biên giới phát triển mạnh mẽ vào các năm 1966 – 1972, đặc biệt dưới sự chỉ huy của Đại Tá Liêu quang Nghĩa. Các vị chỉ trưởng sau này là Đại tá Nguyễn văn Minh và Đại Tá Nguyễn Minh Tiến.&lt;br /&gt;Sở Liên Lạc (Biệt Kích Lôi Hổ) gồm có một Bộ Chỉ Huy đồn trú tại Saigon và 3 Chiến đoàn đồn trú tại Saigon và 3 Chiến đoàn đồn trú tại các Khu vực khác nhau, thích hợp với khu vực mục tiêu hoạt động:&lt;br /&gt;• Chiến đoàn I đồn trú tại Đà Nẵng&lt;br /&gt;• Chiến đoàn II đồn trú tại Kontum&lt;br /&gt;• Chiến đoàn II đồn trú tại Ban mê Thuột.&lt;br /&gt;Song song với các chiến đoàn này, MACV-SOG cũng có những cơ sở hành quân riêng rẽ đồn trú chung cùng doanh trại với các chiến đoàn. Kế hoạch hành quân được phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ chỉ huy Hoa Kỳ và Việt Nam liên hệ. Mỗi Chiến đoàn có nhiều Liên toán và mỗi Liên toán gồm có nhiều Toán. Các Toán này được tổ chức huấn luyện và hành quân theo Kỹ thuật của Lực Lượng Đặc biệt. Sự khác biệt là các Toán của Sở Liên lạc có nhiệm vụ hoạt động ngoài biên giới lãnh thổ và ngay trong lòng địch.&lt;br /&gt;Khoảng năm 1965-1966, Sở Khai Thác / BTTM lại được đổi danh là Sở Kỹ thuật và sau đó không bao lâu, Sở này được nâng lên Nha Kỹ Thuật / BTTM, chỉ huy bởi một vị Giám đốc, cho phù hợp với tổ chức mới. Lúc bấy giờ Nha Kỹ thuật gồm có các đơn vị hoạt động trọng yếu như sau :&lt;br /&gt;• Sở Liên Lạc&lt;br /&gt;• Đoàn 11 và Đoàn 68 ( Sở Công tác được thành lập sau này )&lt;br /&gt;• Sở Không Yểm&lt;br /&gt;• Sở Phòng Vệ Duyên Hải&lt;br /&gt;• Trung Tâm Huấn luyện Quyết Thắng&lt;br /&gt;• Sở Tâm Lý Chiến (tuy là một Sở của Bộ Chỉ huy nhưng Sở này có tầm hoạt động rộng lớn và quan trọng).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm8OK7lDWcI/AAAAAAAAFVI/KlQ_sS97FX4/s1600-h/419388440hTuifC_fs.jpg"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5363521262176131522" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm8OK7lDWcI/AAAAAAAAFVI/KlQ_sS97FX4/s400/419388440hTuifC_fs.jpg" style="cursor: pointer; display: block; height: 400px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 300px;" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm8OHeq588I/AAAAAAAAFVA/wiR4CqkC6W4/s1600-h/419389409RnfljE_fs.jpg"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5363521202876445634" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm8OHeq588I/AAAAAAAAFVA/wiR4CqkC6W4/s400/419389409RnfljE_fs.jpg" style="cursor: pointer; display: block; height: 400px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 326px;" /&gt;&lt;/a&gt;  • Sở Công tác sau này được thành lập với hai Đoàn Công tác 11 và 68. Sau khi Lực lượng Đặc biệt giải tán, Nha Kỹ thuật được tăng cường sĩ quan cán bộ cũng như nhân viên Toán hành quân. Các Đoàn kế tiếp được thành lập là Đoàn 71, 72 và Đoàn 75. Thời gian đầu tiên, Bộ Chỉ huy Sở đồn trú tại Nha Trang sau đó dời ra Đà Nẳng. Các Đoàn 11, 71 và 7 đồn trú tại Đà Nẳng&lt;br /&gt;Các đoàn 11, 71 và 72 đồn trú tại Đà Nẳng, Đoàn 75 tại Ban Mê Thuột. Đoàn 68 vẫn tiếp tục duy trì tại Saigon, gần Bộ Chỉ huy Nha.&lt;br /&gt;Đoàn 68 được giao phó tổ chức và hướng dẫn các Toán Tình báo dài hạn tại Miền Bắc. Các Toán được xâm nhập bằng Trực thăng vận từ lãnh thổ Đệ Tam Quốc Gia hoặc Nhảy Dù vào khu vực mục tiêu tại Miền Bắc. Một số Toán hoạt động tại vùng duyên hải Đông Bắc được đặt kế hoạch xâm nhập bằng hải vận. Nhiệm vụ chính yếu của các Toán này là thiết lập căn cứ hoạt động, quan sát và thám sát các mục tiêu, báo cáo về Trung Ương để nhận chỉ thị hoạt động. Các khu vực mục tiêu trọng yếu nằm dọc theo biên giới Hoa Việt, khu vực Đông Bắc Cao Bắc Lạng, khu vực Tây Bắc, sơn La, Lai Châu, khu vực Bắc vĩ tuyến Thanh Nghệ Tĩnh Bình. Một trong những nhiệm vụ quan trọng là quan sát và báo cáo mọi chuyển quân của Bắc Việt trên các trục giao thông qua biên giới và xuống miền Nam. Các hoạt động trên bắt đầu giảm sút kể từ năm 1968.&lt;br /&gt;Các Toán thám sát ngắn hạn thuộc Đoàn 11 lại được gia tăng và chú trọng hơn trong khi lực lượng chính quy Bắc Việt ồ ạt xâm nhập miền Nam qua các hành lang biên giới. Tuy vậy Đoàn 68 vẫn tiếp tục đảm trách các công tác đặc biệt khác, nhằm đánh lừa địch qua việc sử dụng các Hồi chánh viên cũng như tù binh chính quy, phối hợp với sở Tâm lý chiến.&lt;br /&gt;Kể từ 1972 trở về sau, địa bàn hoạt động của các Toán thuộc Nha Kỹ Thuật / BTTM được thu hẹp lại cho thích hợp với nhu cầu chiến trường. Do đó, các Đoàn và Chiến đoàn công tác đều được tăng phái cho các Quân đoàn và thực hiện những cuộc hành quân thám sát nội biên sau hậu tuyến địch, nhằm mục đích cung cấp cho Quân đoàn những tin tức xác thực để khai thác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vị Chỉ huy trưởng đầu tiên của Sở Công Tác là Đại Tá Ngô thế Linh, nguyên là Phó Giám đốc Nha Kỹ Thuật / BTTM. Các vị chỉ huy kế tiếp là Đại Tá Nguyễn văn Hai và Đại Tá Ngô xuân Nghị trước phục vụ tại Sư đoàn Nhảy Dù.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để yểm trợ cho các Toán hành quân Không vận của Sở Liên lạc và sở Công Tác. Sở Không Yểm có nhiệm vụ liên lạc với Bộ Tư lệnh Không quân, đáp ứng nhu cầu hành quân của Nha Kỹ thuật. Các nhu cầu này gồm phương tiện trực thăng xâm nhập và triệt xuất, các phi vụ thả toán xử dụng phi cơ từ C.47 đến C.123 và C. 130 do phi hành đoàn KQVN thực hiện. Các phi vụ quan sát bằn L.19 hay L.20, các phi vụ bảo trợ thả toán Skyraiders hay F.5. Các đơn vị Không quân này không trực thuộc Nha Kỹ Thuật nhưng các phi vụ đặc biệt này đều được ưu tiên thực hiện theo nhu cầu. Đặc biệt Phi Ðoàn trực thăng 219 được thường xuyên tăng phái cho Nha Kỹ Thuật / BTTM. Đơn vị này đồn trú tại Nha Trang, Những phi vụ tối ư đặc biệt và ngoài khả năng của KQVN đều do Không quân Hoa kỳ đảm trách, xuất phát từ các căn cứ trên lãnh thổ Đệ Tam Quốc Gia.&lt;br /&gt;Trước năm 1964, một số phi vụ thả toán vào lãnh thổ Bắc Việt được thực hiện với các phi hành đoàn ngoại quốc do cơ quan tình báo Hoa Kỳ đảm trách và hoạch định qua hãng Air America tại Saigon. Sĩ quan liên lạc Không quân và cũng là Chỉ huy trưởng Sở Không Yểm từ năm 1961 cho đến tháng Tư năm 1975 là Đại Tá Dư Quốc Lương.&lt;br /&gt;Nói về các hoạt động đặc biệt của Nha Kỹ Thuật mà không đề cập đến các công tác hải vận của đơn vị này là một thiếu sót đáng kể. Công tác Hải vận và Biệt Hải của Nha Kỹ Thuật / BTTM được giao phó cho Sở Phòng Vệ Duyên Hải. Tiền thân của Sở này là căn cứ " Pacific ", trong hệ thống tổ chức của Phòng 45 thuộc Sở Khai thác Địa Hình. Sở Phòng vệ Duyên Hải được chính thức hoạt động Khoảng cuối năm 1964 và đầu 1965. Trước đó phương tiện xâm nhập các nhân viên điệp báo và các Toán tại các vùng Duyên hải Bắc Việt đều xử dụng các thuyền máy đánh cá, sửa chữa lại theo kiểu thuyền miền Bắc. Các thuyền này được đưa về Đà Nẳng để huấn luyện và thực tập về công tác xâm nhập cùng với nhân viên hay Toán hoạt động.&lt;br /&gt;Sau này vì khả năng có giới hạn của các thuyền này và vì nhu cầu tốc độ và khả năng chiến đấu để bảo vệ, cơ quan Tình báo Hoa kỳ đã cung cấp cho Nha Kỹ thuật / BTTM các loại Chiến đỉnh SWIFT và NASTY, do một số thủy thủ đoàn ngoại quốc chỉ huy. Các Chiến đỉnh này có tốc dộ nhanh và được võ trang để tự vệ nếu bị Hải quân Cộng sản tấn công. Tuy vậy, các tàu này chỉ có tầm hoạt động ngắn, không qua vĩ tuyến 20. Sau này, sau khi MACV-SOG đảm trách yểm trợ NKT / BTTM, Sở Phòng vệ Duyên Hải được tăng cường các chiến đỉnh lớn PFT ( Patrol - Torpedo - Fast ) có tầm hoạt động xa, tốc độ nhanh và trang bị hỏa lực mạnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các loại tàu này không những có khả năng tự vệ mà còn có khả năng đánh phá và tấn công các mục tiêu Cộng Sản nếu cần. Bộ Tư lệnh Hải Quân cũng được chỉ thị cung cấp các thủy thủ đoàn cho các chiến đỉnh này. Các hoạt động đặc biệt do Sở Phòng Vệ Duyên Hải thực hiện đều nằm trong sự kiểm soát và trách nhiệm của Nha KT / BTTM, không có liên hệ nào đối với Bộ Tư Lệnh Hải Quân và hoàn toàn được bảo mật tối đa. Các Thủy thủ đoàn này đều nằm trong Lực lượng Hải tuần trực thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải. Sở này được một vị cấp Tá do BTL / HQ biệt phái chỉ huy. Vị chỉ huy trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Ngô thế Linh (từ năm 1964 đến 1966), sau đó là Trung Tá Hồ văn Kỳ Thoại, sau này được thăng cấp Đề Đốc. Các Toán người Nhái và hoạt động được gọi là Lực Lượng Biệt Hải và thuộc Lực lượng Biệt Hải của Sở này. Các Toán này được huấn luyện và thi hành những công tác đặc biệt tương đương với các Toán SEAL ( Sea Air Land ) thuộc Lực lượng Hoa Kỳ. Toán viên Biệt Hải được huấn luyện về bơi lội, xử dụng Scuba, Nhảy Dù ngoài những kỹ thuật hành quân đặc biệt khác.&lt;br /&gt;Toán có khả năng xâm nhập nhảy dù xuống các vùng mục tiêu dọc theo miền duyên hải, xử dụng bãi nhảy sát bờ biển hay cả trên mặt nước. Sau khi hoàn thành công tác, Toán có thể triệt xuất bằng cách bơi ra khỏi để được tàu tiếp đón và đưa về căn cứ ở Miền Nam. Các công tác này rất nguy hiểm nên phải được thiết kế một cách chi tiết và thận trọng.&lt;br /&gt;Sau hiệp định Paris, hoạt động của Sở này bị giảm thiểu đáng kể và sau đó được tăng phái hành quân cho các Quân đoàn để thi hành một vài công tác đặc biệt tại các vùng do Cộng Sản kiểm soát tại miền NAM.&lt;br /&gt;Một bộ phận hoạt động quan trọng khác trong hệ thống trách nhiệm của NKT / BTTM là Sở Tâm Lý Chiến. Tuy rằng trong thành phần tổ chức của Bộ Chỉ Huy Nha, Sở Tâm Lý Chiến là một đơn vị hoạt động không phải thuần túy tham mưu. Sở này sử dụng đa sồ chuyên viên dân sự để điều khiển các hệ thống phát thanh và các công tác chiến tranh chính trị khác nhằm yểm trợ cho cho hoặt động đặc biệt tại miền BẮC. Sở có trách nhiệm điều khiển hai hệ thống phát thanh. Đài Tiếng nói Tự Do là một hệ thống phát thanh " Xám ", tiếng nói của những người mến chuộng Tự Do chống đối hệ thống tư tưởng Cộng Sản. Một hệ thống phát thanh bí mật khác là Đài " Gươm thiêng ái quốc ", tiếng nói của Mặt trận Giải phóng Miền Bắc, nhằm hỗ trợ cho các công tác của các Toán đặc biệt nằm trong lãnh thổ Miền bắc. Ngoài công tác phát thanh, Sở TLC / NKT đã thực hiện nhiều công tác ly gián, lừa địch, sử dụng các Hồi chánh viên và Tù binh chính qui Bắc Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai Đài phát tuyến Cồn Tre tại Quảng Trị và Thanh Lam tại Huế có tầm hoạt động rộng lớn bao gồm cả lãnh thổ Bắc Việt cho đến biên giới Hoa Việt. Phần lớn các hoạt động Tâm lý chiến và phát thanh đều được cơ quan Tình Báo Hoa Kỳ tài trợ và cố vấn về kỹ thuật. Sau này, " Đài Gươm Thiêng Ái Quốc " chấm dứt hoạt động vì tình hình chiến sự và chính trị thay đổi. Đài " Mẹ Việt Nam " được nối tiếp để duy trì công tác phát thanh của Nha Kỹ Thuật.&lt;br /&gt;Đại Tá Trần văn Hổ nhậm chức Giám đốc Nha Kỹ Thuật / BTTM kể từ năm 1964 cho đến tháng 8 năm 1968. Chính trong thời kỳ này rất nhiều kế hoạch và hoạt động đặc biệt nhằm vào lãnh thổ miền Bắc được thực hiện. Sau vụ tấn công của Cộng Sản vào Tết Mậu Thân và các cuộc hòa đàm giữa Hoa Kỳ và Bắc việt tại Paris, hoạt động đặc biệt lần lần bị giảm thiểu, nhất là những công tác ngay trong lãnh thổ Bắc Việt. Các công tác này được tập trung và gia tăng tại các vùng giáp tuyến và các vùng biên giới Lào Việt, Miên Việt. Đại Tá Đoàn văn Nu được Đại tướng Tổng Tham mưu Trưởng bổ nhiệm làm Giám đốc thay thế Đại Tá Trần văn Hổ vào khoảng tháng 8 năm 1968 và tiếp tục chỉ huy Nha Kỹ Thuật cho tới ngày cuối cùng của Nha.&lt;br /&gt;Trong thời kỳ này, tình hình chiến sự và chính trị thay đổi, đặc biệt nhất là đường lối của Hoa kỳ đối với chiến trường Việt Nam không còn quyết tâm như trước, do đó các công tác đặc biệt không còn được hỗ trợ mạnh mẽ như trước năm 1968. Tuy vậy, Nha Kỹ thuật / BTTM vẫn tiếp tục thực hiện nhiều thành tích đáng kể. Các Toán hoạt động tuy không phải xâm nhập vào lãnh thổ Bắc Việt hoặc sâu vào biên giới Lào Miên, được trực thăng vận ngay vào các khu vực địch kiểm soát. Các cuộc hành quân này cũng không kém phần quan trọng và còn nguy hiểm hơn nhiều. Các Toán này đã gây trở ngại và làm chậm mức xâm nhập của Cộng Sản trong mưu đồ xâm lược miền NAM Việt Nam.&lt;br /&gt;Các Toán hành quân của Nha Kỹ thuật, dù thuộc một đơn vị nào cũng luôn luôn chứng tỏ tinh thần dũng cảm, đầy nhiệt huyết, xem sự chết nhẹ tựa lông hồng, chiến đấu oai hùng trong mọi nguy hiểm và hoàn cảnh khó khăn. Cuộc chiến đấu chống Cộng tuy đã chấm dứt vào cuối tháng 4 năm 1975, nhưng tinh thần của cuộc chiến và những giờ phút oai hùng đó không dễ gì phai mờ trong tâm trí cũa những Cựu Chiến Sĩ Nha Kỹ Thuật này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Viết tại Winston-Salem, North Carolina&lt;br /&gt;Cựu Quân nhân Trung Tá Lữ Triệu Khanh&lt;br /&gt;Thuộc Nha Kỹ Thuật / BTTM &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/TBD6cQZwg0I/AAAAAAAANnc/bCd-60Qh3_U/s1600/LuTrieuKhanh.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" qu="true" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/TBD6cQZwg0I/AAAAAAAANnc/bCd-60Qh3_U/s320/LuTrieuKhanh.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-2820551055704713305?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/2820551055704713305/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2010/05/lich-su-nha-ky-thuat-trung-ta-lu-trieu.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/2820551055704713305'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/2820551055704713305'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2010/05/lich-su-nha-ky-thuat-trung-ta-lu-trieu.html' title='Lịch Sữ Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Lữ Triệu Khanh'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm3p-Sv6HwI/AAAAAAAAFTY/6hlZd1SxOXs/s72-c/43375689LBqUxv_ph.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-511500019759683946</id><published>2009-08-18T10:31:00.001-07:00</published><updated>2009-08-18T10:31:43.768-07:00</updated><title type='text'>Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Nguyễn Văn Vinh</title><content type='html'>&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldOJ0jpDnI/AAAAAAAAEx4/WgbGnGVNmKQ/s1600-h/trungtavinh.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 254px; height: 400px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldOJ0jpDnI/AAAAAAAAEx4/WgbGnGVNmKQ/s400/trungtavinh.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356836212414418546" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Lời Tòa Soạn: VNCH đã giữ vững được cuộc sống tự do trong suốt 21 năm ngắn ngủi nhưng đầy gian truân, máu và nước mắt, đầy sự hy sinh của biết bao nhiêu người. &lt;br /&gt;Trong số những sự hy sinh đó, phải nói tới sự hy sinh của người lính Biệt Kích Dù hoạt động tại Bắc Việt. Số phận của họ rất bi thảm khi bị kẹt tại Bắc Việt. Bảng tổng kết sơ khởi cho biết trong số những Biệt Kích Dù được thả ra miền Bắc có 7 người đã bị CS tuyên án tử hình và đã bị hành quyết, 9 người tử trận, 21 người chết trong các trại tù khổ sai miền Bắc, 7 người chết sau khi được thả về, 2 người mất tích khi thi hành nhiệm vụ, 11 người bị chỉ định phải định cư tại các nông trường hay hợp tác xã miền Bắc. Đa số những người còn lại đều bị tra tấn dã man và bị bắt lao động khổ sai trong những trại tù khắc nghiệt nhất. Tại sao hầu hết các biệt kích thả xuống miền Bắc đã bị CS bắt? &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Bài viết sau đây là của Trung tá Nguyễn Văn Vinh, người trực tiếp phụ trách các toán Biệt Kích Dù được thả xuống Bắc Việt, sẽ cho chúng ta biết những nét đại cương về tổ chức các đơn vị Biệt Kích, các hoạt động của họ và cách thức điều hành của cơ quan tình báo Hoa Kỳ. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;* * * * * &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Vài nét về hoạt động của Biệt Kích Dù tại Bắc Việt&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Ít ai biết đến các tên P45, Sở Bắc hay Sở Khai Thác, tiền thân của Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưụ Đó là những bí danh của một cơ quan tình báo chiến lược, được thành lập từ cuối năm 1958, đặt trực thuộc Phủ Tổng Thống và nằm trong mạng lưới chỉ huy của Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt VNCH. Cơ quan này được Hoa Kỳ yễm trợ cả về tài chánh lẫn các phương tiện cần thiết để thực hiện cuộc chiến tranh không quy ước chống miền Bắc CS. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Sau Hiệp dịnh đình chiến Geneva, vĩ tuyến 17 được chọn làm vùng phi quân sự và sông Bến Hải là biên giới thiên nhiên, ngăn cách 2 miền Nam Tự Do và Bắc CS. Quân đội viễn chinh Pháp, dưới áp lực của Hoa Kỳ, đã phải kéo cờ tam tài xuống khỏi dinh Norodom, nhường chỗ cho quốc kỳ VN tung bay tại dinh Độc lập vừa được đổi tên và đổi chủ. Để đáp lại, quân đội Pháp đã không nương tay, xóa sạch mạng lưới tình báo mà họ đã khổ công gầy dựng trong nhiều năm tại miền Bắc. Đây là một sự thiệt hại khá lớn cho ngành tình báo non trẻ của miền Nam. Trong khi đó, CS đã để lại tại miền Nam vô số cơ sở tình báo mà họ đã gầy dựng trong suốt thời kỳ chống Pháp, trong đó phải kể đến các thân nhân của các cán bộ và bộ đội tập kết. Thêm vào đó, các khuyết điểm to lớn chồng chất của 2 chế độ lỗi thời Thực dân dân và Phong kiến đã làm mồi nuôi dưỡng các phong trào chống đối trong nội bộ miền Nam, rất thuận lợi cho các cán bộ CS nằm vùng khai thác. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Dù vậy, ngành tình báo miền Nam, tuy phải xây dựng trễ và phải đặt nền móng từ đầu, nhưng lại được hưởng ứng nồng nhiệt vì đa số người Việt thời ấy, nhất là đồng bào di cư, các bộ lạc dân tộc thiểu số, các đảng phái chính trị và tín đồ các tôn giáo, đã thấy rõ bộ mặt gian dối của CS. Có người đã chứng kiến những vụ tàn sát hay đấu tô dã man các thành phần quốc gia yêu nước nhưng bất đồng chính kiến với CS và có khi họ chính là thân nhân của các nạn nhân đó. Ngoài ra, những tài liệu sống động như cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống đã gây được một ấn tượng ghê tởm CS trong mọi tầng lớp nhân dân miền Nam. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Nắm được các yếu tố thuận lợi trên đây, Sở Bắc đã gấp rút gửi nhân viên đến các trại định cư, liên lạc với các vị lãnh dạo tinh thần cũng như các bộ lạc dân tộc thiểu số, chiêu mộ các thanh niên nhiệt tình yêu nước còn thân nhân ở tại miền Bắc, để cấp tốc đưa về huấn luyện và tạo vỏ bọc thuận lợi, đưa họ về quê quán hoạt động. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Từ những năm đầu tiên đến năm 1966, các toán xâm nhập miền Bắc thường xử dụng một trong những phương cách sau đây: &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;- Nhảy dù đêm vào vùng mục tiêu. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;- Xâm nhập đường biển bằng thuyền mẹ, và từ đó xử dụng thuyền con bơi vào vùng công tác. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;- Xâm nhập vào vùng phi quân sự, vượt sông Bến Hải và lén lút đi bộ vào điểm công tác, móc nối với thân nhân đã nằm vùng, hoặc giới chức được tín nhiệm tại địa phương. Trường hợp sau này thường phải xử dụng “bona fides” để nhận nhau. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;- Cử chuyên viên phục vụ tại Tòa Đại sứ của một vài nước thứ 3 như Lào, Cam-bốt, Pháp, Thái Lan hay Hong Kong...rồi từ đó tuyển mộ và huấn luyện các công tác viên có khả năng, và tạo cho họ cái vỏ bọc thích hợp cũng như giấy tờ hợp lệ để họ dễ dàng xâm nhập vào miền Bắc hoạt động. Phương pháp này đã được điều nghiên tỉ mỉ, nhưng vì quá tốn kém nên chỉ được thực hiện từng giai đoạn. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Tuy có nhiều hình thức xâm nhập khác nhau như vừa trình bày trên, nhưng trong bài này, tôi (Trung tá Nguyễn Văn Vinh) chỉ xin đề cập đến những toán Biệt Kích xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng không mà thôi, vì đây la phần việc mà chính tôi đã đảm nhận trong nhiều năm tại cơ quan tình báo chiến lược này. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Những chuyến bay đêm &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Các toán Biệt Kích Dù thường được thả xuống miền Bắc vào những đêm trăng. Mùa trăng thuận lợi cho công tác này bắt đầu từ ngày mồng 10 - 20 âm lịch hằng tháng. Giờ giấc được chọn tùy thuộc vào điều kiện an ninh và thời tiết tại vùng công tác. Để có đủ phương tiện đối phó với các bất trắc có thể xảy ra khi toán chạm đất, các nhân viên Biệt Kích Dù phải mang theo các trang bị cá nhân khá nặng nề. Ngoài súng tiểu liên Swedish K. của Thụy Điển hoặc Sten của Anh hay Uzi của Do Thái có trang bị ống giảm thanh và 3 đơn vị hỏa lực, họ còn phải đèo thêm các dụng cụ khác trên 20 món, nào bidon nước, bản đồ vùng mục tiêu, địa bàn, lựu đạn, 3 ngày lương khô, đèn bấm, pamean, dao găm, túi cứu thương cá nhân, cà mèn, pháo hiệu (pen flare), đồng hồ đeo tay, radio, v.v... &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Các dụng cụ này thường được mua ở các nước thứ 3 và không một trang cụ nào được mang nhãn hiệu Hoa Kỳ hay miền Nam VN. Các đồ trang bị tập thể nhưng dụng cụ phá hoại, đồ cứu thương, lương thực dự trữ dùng cho 3 tháng, v.v...đều được đóng thành kiện. Máy truyền tin dự trữ và máy beacon là máy phát tín hiệu có tầng số nhất định, được đặt tại kiện hàng só 1. Các toán viên khi nhảy dù xâm nhập vào đêm, chiếc dù có thể bị ảnh hưởng của gió, bạt ra xa cách bãi thả 1-2 km. Nhưng nhờ các radio cá nhân, họ có thể dễ dàng bắt tín hiệu từ máy beacon phát ra, để đi về hướng tập trung. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Thông thường, các nhân viên quê quán vùng vào được thả về mục tiêu vùng đó. Để đảm bảo an ninh cho công tác, mục tiêu và nhiệm vụ của toán chỉ được thuyết trình vào giờ chót, trước khi lên máy baỵ Các chuyến xuất phát trong những năm đầu đến năm 1964, chính cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ đã yểm trợ cho các chuyến bay bí mật này và lộ trình duy nhất được xử dụng là Tân Sơn Nhất - Đà Nẵng - Vùng mục tiêu. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Tại Đà Nẵng, đợi lúc trời tối, phi cơ cỡi bỏ hết mọi huy hiệu trước khi khởi hành xâm nhập vào vùng hành quân. Phi cơ được xử dụng là loại DC7 hoặc DC6. Phi hành đoàn thường là người Trung Hoạ Tuy nhiên, cũng có lúc phi hành đoàn là người VN, được tuyển chọn trong số sĩ quan có khả năng và được tín nhiệm nhất của Không Quân Việt Nam. Phó TT Nguyễn Cao Kỳ hồi còn mang lon Đại úy, đã nhiều lần làm phi công chính thức cho các phi vụ đặc biệt này. Đến cuối năm 1966, Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ rút vào bóng tối, nhường chỗ cho MAC-SOG, một cơ quan tình báo quân sự, thay thế yểm trợ cho Nha Kỹ Thuật. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Khi cường độ chiến tranh VN đi đến giai đoạn khốc liệt nhất thì nhu cầu tin tức gia tăng cao, do đó số toán Biệt Kích Dù hoạt động phải được tăng cường nhiều hơn. Các phương tiện xâm nhập cũ được thay thế bằng C123 hoặc C130 và nơi phát xuất được chuyển sang Nakor-Phanum, một sân bay nằm sát biên giới Thái-Lào hoặc sân bay don nằm ở phía Đông -Bắc Thái Lan. Từ các nơi đó các toán Biệt Kích Dù được chuyển qua trực thăng CH3 để bay băng qua lãnh thổ Lào, tiến về vùng mục tiêu nằm trên ranh giới Lào-Việt. Cũng có lúc mục tiêu được lựa chọn nằm sâu trong nội địa Bắc Viêt. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Trực thăng là phương tiện xâm nhập vừa rẻ tiên vừa tiện lợi nhưng lại là phương tiện kém an toàn nhất, vì tiếng động cơ quá lớn, địch dễ phát hiện. Phải chăng đây là một trong những nguyên nhân thất bại của công tác Biệt kích tại miền Bắc? Vấn đề này đã được phía VN quan tâm và nêu lên nhiều lần trong các phiên họp Việt-Mỹ, nhưng phía đối nhiệm không quan tâm.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Số phận những con chim lạc loài &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Đến cuối năm 1968, trong số gần 40 toán được cho xâm nhập bằng đường hàng không và đường bộ để hoạt động dài hạn, chỉ con có 5 toán là còn giữ được liên lạc với Trung ương, đó là các toán Tourbillon (1962), AreÀs (1962), Remus (1963), Easy (1963) và Eagle (1963). Theo đánh giá chung của các chuyên viên hữu trách Việt - Mỹ. thì cả 5 toán này hình như đã bị địch kiểm soát, nhưng cá nhân tôi vẫn còn tin tưởng một toán, đó là toán Ares. Sự tin tưởng này có thể đúng vì lý do sau đây: &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Vào những năm đầu ở trại cải tạo, tôi thường bị cán bộ, không biết thuộc cơ quan nào và cấp nào, đã thay nhau thẩm vấn tôi về các toán Biệt Kích. một trong những lần thẩm vấn ấy, tôi bị 3 tên cùng một lúc thay nhau hạch hỏi suốt buổi sáng, khiến tôi không còn sức chịu đựng, tôi đã bị gục ngã vì tức giận và xây xẩm. Họ cho người dẫn tôi về phòng, nhưng 2 giờ sau lại kéo tôi lên tiếp tục thẩm vấn. Họ dùng đủ trò ma giáo “hỉ, nộ, ái, ố”,...lúc thì mời tôi hút thuốc lá “có cán” (tức loại thuốc có đầu lọc, một loại thuốc cao cấp vào thời ấy), lúc lại đập bàn quát mắng, khinh bĩ. Họ chưa bao giờ đánh đập tôi lúc thẩm vấn, nhưng họ đã dùng những lời rất cộc cằn và thô lổ để áp đảo tinh thần tôi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldOQLxznZI/AAAAAAAAEyA/4zLzpvJ20TI/s1600-h/trungtanguyenvanvinh2.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 268px; height: 400px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldOQLxznZI/AAAAAAAAEyA/4zLzpvJ20TI/s400/trungtanguyenvanvinh2.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356836321727061394" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; Một điều làm tôi quan tâm hơn cả là họ hỏi tôi rất nhiều về toán Ares, như trưởng toán tên gì, quê quán ở đâu, tuổi tác độ bao nhiêu, dáng điệu bên ngoài như thế nào, có những đặc điểm gì, những liên hệ gia đình, địa chỉ của các người thân lúc ở miền Nam, v.v... Tôi thầm nghĩ nếu Ares đã thật sự nằm trong tay họ thì mắc mớ gì họ phải hỏi tôi những chuyện thừa thải ấy. Tôi có lý do để không trả lời họ, vì Ares đã xuất phát năm 1962, trước khi tôi được thuyên chuyển về Sở Bắc. Tuy nhiên, hôm nay tôi xin nói ra đây những gì tôi có thể nói ra được. Một vài chi tiết khác tôi thấy chưa thể tiết lộ lúc này vì có thể phương hại đến sự an toàn của toán đó, nếu quả thật toán đó đến nay vẫn còn dấu được tung tích. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Ares hay Hạ Long có tên thật là..., một cán bộ trung cấp và là đảng viên CS bị khai trừ vì bất mãn. Anh đã theo đoàn người di cư vào Nam năm...và được một giới chức miền Nam báo cáo lên ông Ngô Đình Nhu, Tổng Thống Diệm và ông Nhu đã lưu tâm và giúp đỡ cho người này. Sau dó, Sở Bắc đã cử người đến tiếp xúc thuyết phục và bố trí cho anh trở về Bắc hoạt động. Anh đã đồng ý và đã được đưa xâm nhập vào Vịnh Hạ Long năm 1962, rồi từ đó tiến dần về cảng Hải Phòng và nhà máy điện Uông Bí. Đây là 2 mục tiêu mà anh có nhiệm vụ theo dõi và báo cáo mọi sinh hoạt. AreÀs tỏ ra rất tích cực trong mọi nhiệm vụ giao phó, và điều rất kỳ lạ là anh đã mộ mến Tổng Thống Ngô Đình Diệm một cách khác thường. Hàng năm, trước ngày Song Thất hoặc 26/10, anh đều có đánh điện chúc mừng TT Diệm và nguyện trung thành phục vụ tổ quốc. Khi nghe tin TT Diệm bị giết qua đài phát thanh, anh rất thắc mắc và sau khi được Trung ương xác nhận, anh đã tỏ ra chán nản tột độ. Dù vậy, anh vẫn thi hành mọi công tác giao phó một cách chu đáo. Những chuyến tàu cập bến Hải Phòng, nhất là các tàu chở vũ khí hay quân dụng, đã được anh theo dõi và báo cáo khá chi tiết. Ngoài nhiệm vụ trên, anh còn báo cáo kết quả oanh tạc của một số mục tiêu khác nhau như cầu Hàm Rồng và nhà máy điện Uông Bí ở quanh vùng Hải Phòng. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Để giúp anh thi hành nhiệm vụ trong thời gian anh bị bị bịnh sốt rét, Trung ương đã chấp thuận đề nghị của anh, tuyển mộ thêm người em ruột và một hai người khác trong họ hàng, để phụ anh thực hiện quan sát các mục tiêu ở xạ Trong những năm 1966, 1967 và 1968, bệnh sốt rét của anh trở nên trầm trọng, nhưng Trung ương không tiếp tế cho anh được vì địa điểm nhận tiếp tế của anh nằm trong Vịnh Hạ Long đã bị lộ. Thêm vào đó, vùng biển Hải Phòng bị Mỹ gài mìn khiến mọi cố gắng tiếp tế bằng thuyền cho anh đều không thể thực hiện được. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Khoảng giữa năm 1968, do lời yêu cầu của phía VN, Hoa Kỳ đã tìm được kế hoạch tiếp tế cho AreÀs. Trung ương báo ngay cho ahn tọa độ một số bãi thả tiếp tế và yêu cầu toán đến tận nơi nghiên cứu và báo ngay địa điểm ưu tiên được chọn. Sau khi nhận phúc đáp, Trung ương đã hướng dẫn các chi tiết mà toán phải thi hành để có thể nhận tiếp tế đúng như dự liệu. Đến ngày N, giờ G, một đoàn phản lực đã xuất hiện bắn phá một số mục tiêu ở Hải Phòng, cùng lúc đó một phản lực cơ khác đã bắn một thùng “container” đựng hàng tiếp tế xuống thửa ruộng đã ấn định và được AreÀs đánh dấu bằng 2 cụm khói trắng như đã chỉ thị. Cách tiếp tế này đã được thực tập 2 lần tại trại Long Thành và cả 2 lần đều đem lại kết quả mong muốn. Trong container đựng hàng tiếp tế, ngoài lương thực, thuốc men, áo quần còn có 10 khâu vàng để toán trao đổi thực phẩm hoặc thuốc men mỗi khi cần đến. Ngoài các vật dụng trên, còn có 4 lá thơ, trong đó có một lá thơ thăm hỏi của Trưởng công tác, còn 3 lá thơ khác được dán bì kín. Toán được chỉ thị dán tem vào và tuần tự gởi đến một địa chỉ trung gian tại Thái Lan. Mỗi thơ đều có dấu hiệu riêng mà toán không được biết lý do. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Chỉ trong một thời gian ngắn, 2 thơ có nội dung thường đã đến tay người nhận, thơ còn nguyên si không bị mở, nhưng thơ thứ 3 có “gài” một tài liệu bí mật giả tạo lại không đến tay người nhận. 2 tháng sau, khi dược Trung ương hỏi về lá thơ này thì toán cho biết, trên đường di tới bưu điện, bị còi báo động, đương sự phải chạy tìm hầm trú ẩn, không may đánh rơi lá thơ xuống vũng bùn nên đương sự đã không gửi. Lý do này đã khiến bạn đồng minh Hoa Kỳ nghi ngờ lòng trung thành của Ares &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Nhiệm vụ mới &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Đến năm 1968, sau đợt tấn công của địch vào dịp Tết Mậu Thân, Nha Kỹ Thuật phải lãnh nhận thêm rất nhiều công tác ngoại biên với những toán mới được thành lập : - Các toán STRATA là những toán quân nhân được huấn luyện thuần thục để thi hành những công tác đột kích hay phá hoại các căn cứ địch nằm trên lãnh thổ Bắc Việt. - Các toán PICK-HILL là những toán người Miên gốc Việt hoạt động trong lãnh thổ Cam-bốt, có nhiệm vụ quan sát và phá hoại các căn cứ địa của VC nằm trên lãnh thổ nước láng giềng Cam-bốt. - Các toán EARTH-ANGEL, còn được gọi là Đề Thám, là những toán được thành lập với thành phần tù binh bộ đội Bắc Việt hồi chánh. Các toán này hoạt động rất đắc lực, được trang bị như bộ đội chánh quy miền Bắc. Nhờ đó họ len lỏi vào vùng địch khá dễ dàng và đã nhiều phen lập được nhiều thành tích đáng kể. Một số toán viên sau dó đã gia nhập Quân đội VNCH. - Các toán SINGLETON hoạt động riêng biệt từng cá nhân. Họ là những Việt kiều từng sống nhiều năm tại Cam-bốt, được móc nối trở lại hoạt dộng nằm vùng tại Mimote, Krek, Sihanoukville, Kratié, Ba Thu, v.v... Đây là những nơi địch đặt căn cứ quân sự và hoạt động rất mạnh. Các nhân viên này có nhiệm vụ theo dõi, báo cáo hoạt động địch và hướng dẫn phi cơ oanh tạc lúc cần thiết. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Ngoài các toán hoạt động như trên, còn có chương trình công tác lừa địch và ly gián địch, được gọi là chương trình Borden, mà toán viên là những tù binh bộ đội Bắc Việt cứng đầu. Họ được học nhảy dù vài hôm trước khi được trang bị như một toán viên rất trung thành của miền Nam : một bản đồ, lệnh hành quân, thơ giới thiệu, v.v... Các thứ này được dấu kín trong áo nhảy và chỉ được trao cho toán viên tù binh cứng đầu mặc vào trước khi được thả dù xuống vùng địch chiếm đóng. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Các chương trình mới này đã đem lại những kết quả hết sức khích lệ, nên phía Hoa Kỳ đã yêu cầu phía VN chấm dứt liên lạc với 5 toán còn lại ở miền Bắc, bằng cách ra lệnh cho các toán ấy tìm cách xâm nhập qua Lào, trinh diện với bộ đội Vang Pao hoặc rút về miền Nam... Tuy nhiên, nhiều tháng sau khi lệnh được ban hành, không một toán nào xuất hiện. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Hướng về những người anh em kiêu hùng &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Các Biệt Kích Dù bị CS bắt đã phải chịu đủ thứ cực hình. Tuy vậy, họ vẫn giữ vững tinh thần quốc gia và đồng đội. Thái độ cương quyết của họ đã phải làm các cán bộ CS khâm phục và gọi họ là những người “không cải tạo được”. Mãi đến một thời gian lâu sau khi VNCH bị chiếm đóng, CS mới tuần tự tạm trả tự do cho các tù nhân Biệt Kích. Người được trả sớm nhất đã phải ở tù suốt 15 năm và người lâu nhất trên 20 năm. Khi họ trở về, chúng ta đã biết thêm được nhiều chuyện đã xảy ra khi họ công tác tại Bắc Việt. Tuy nhiên, vẫn còn một số toán bặt tin, trong đó có toán VOI do anh Trần Hiếu Hòa làm trưởng toán cùng với 4 toán viên. Toán AreÀs mà tôi đã đề cập ở trên và một vài toán khác nữa, cũng đang nằm trong danh sách những toán mất tích này. Phải chăng họ đã bị thủ tiêu hay đã hy sinh trên đường thi hành nhiệm vụ. “Hy sinh trong bóng tối, tất cả vì Tổ quốc”, đó là phương châm hành động mà mọi Biệt Kích đã chấp nhận khi gia nhập vào binh chủng này. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Tôi còn nhớ năm 1970, các sĩ quan trong Bộ chỉ huy Nha Kỹ Thuật đã được xem một cuốn phim mà một đơn vị VNCH vừa tịch thu được của bô đội Bắc Việt khi tấn công vào một căn cứ địch ở Mimot, Cam-bốt. Cuốn phim ghi lại phiên tòa xét xử một toán Biệt Kích mang tên toán Jackson, hoạt dộng tại vùng Nghệ Tĩnh. Bản cáo trạng rất dài, luận tội rất nặng “nào là tay sai đế quốc Mỹ, tay sai Ngô Đình Diệm, nào là xúi dục nhân dân lật đổ chính quyền và phá hoại tài sản nhân dân, v.v... &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Toán Jackson đã bị bắt toàn bộ với tất cả vũ khí và chất nổ khi toán phá chiếc cầu thứ 2 tại Cửa Lò. Hầu hết toán viên đã lãnh án tử hình, chỉ 1-2 người lãnh án chung thân. Điều làm anh em chúng tôi xúc động và hãnh diện, là được chứng kiến thái độ hiên ngang và bình tĩnh của các toán viên khi bản án tử hình được tuyên đọc. Theo lời một nhân chứng quê ở Thọ Ninh, bà con với một toán viên cho biết, 6 người lãnh bản án tử hình đã bị bắn ngay sau đó, và lời nói cuối cùng của họ là : Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Tổng Thống Ngô Đình Diệm muôn năm! &lt;br /&gt;Anh em chúng tôi là nững người đã đi qua nhiều trại cải tạo ở miền Bắc và đã được nghe nói rất nhiều về những việc làm đáng phục của anh em Biệt Kích. Trong số đó có các vị linh mục, đại đức tuyên úy, các bạn bè của tôi đã sống chung trại với các anh ấy. Ngoài ra, các tù hình sự miền Băc mà đa số chúng tôi thường gọi họ bằng danh từ “bọn hình sự”, vì phần đông họ thuộc thành phần bất hão, trộm cướp, đâm chém, giết người...khi được hỏi về anh em Biệt Kích thì họ tỏ vẻ rất khâm phục. Họ nói với tôi :”Các anh Bê Ka là những người rất hào hùng, cán bộ trại cũng phải nể, các anh ấy rất kỹ luật và đoàn kết với nhau, họ thương nhau và giúp đỡ nhau. Khi một người bị biệt giam được thả hay bị ốm, là các anh khác tìm cách giúp đỡ. Dù ai cũng đói, nhưng họ nhịn bớt phần ăn để bồi dưỡng cho anh em bị bệnh hay bị ốm. Đã có những anh Bê Ka cướp súng bắn cán bộ rồi chạy thoát, có nơi các anh toàn bộ đứng lên làm reo tuyệt thực không đi lao động, nhưng cán bộ trại cũng đành phải làm ngơ...” &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Riêng cá nhân tôi, trong 13 năm cải tạo, đã không may mắn gặp lại các anh em Biệt Kích, nhưng tôi không bao giờ quên những con người hào hùng cùng chung lý tưởng đã cùng chung sống với nhau trong tình huynh đệ chân thành. Tôi là người đã từng sống chung với họ ở trại huấn luyện Long Thành và lúc họ lên đường đi công tác., tôi đã tiễn chân hoặc nhiều khi đã cùng vói họ bay vào vùng mục tiêu xâm nhập, đưa tay vẩy chào họ khi họ rời máy bay... Những kỷ niệm đó khó quên được. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Những kỷ niệm khó quên &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Tôi nhớ lại năm xưa, có lần trước ngày lên đường công tác, tôi lái xe đưa một nhân viên của tôi đến thăm lần cuối người bạn gái, hay nói đúng hơn, một người yêu, có nhà ở hẽm xứ Bùi Phát, trên đường Trương Minh Giảng, nay đổi tên là Lê Văn Sỹ. Đến nơi, người thanh niên ấy vội vã bước xuống xe như muốn tận dụng những giây phút ngắn ngủi và quý báu còn lại... Khoảng 10 phút sau, anh trở ra với người bạn gái đi theo tiễn chân, trên tay anh còn mang một gói quà nhỏ mà tôi đoán chắc đó là quà kỷ niệm của người yêụ Họ nhìn nhau, mắt đẫm lệ, và tôi chỉ biết im lặng cảm thông nỗi buồn chan chứa đang xâm chiếm 2 tâm hồn... Xe chạy được một quãng đường, người thanh niên ấy quay nhìn tôi, vừa nói vừa mở món quà :”Đây, anh xem, quà cô ấy tặng em”. Tôi liếc nhìn, thấy một nắm tóc thề được gói trong một chiếc áo lót. Cả hai chúng tôi đều im lặng trên đường về trại. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Lần khác, một nhân viên của tôi cũng sắp lên đường, anh đến gặp tôi và trao cho tôi một chồng thơ khá dày đã đề bì sẵn và nói :”Anh Dũng, anh biết em là con một, em đi nhưng em đã không dám nói thật với mẹ em. Vì vậy, em nhờ anh mỗi tháng đến thăm mẹ em và trao cho em. em một bức thơ này, nói là em đang đi học ở ngoại quốc gửi về để mẹ em yên tâm”. &lt;br /&gt;Tôi xúc động nhìn người thanh niên ấy với tất cả lòng yêu thương và mến phục. Tôi đã nhận thơ anh giao và hàng tháng, tôi đã đến thăm mẹ em và trao cho bà quả phụ ấy bức thư của con bà... Nhưng đau đớn thay, lá thơ cuối cùng của anh đã được trao mà “khóa học” của anh vẫn chưa mãn. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Hai nhân viên Biệt Kích mà tôi vừa kể trên đây, cả 2 đều trở về từ cõi chết, sau gần 20 năm sống trong lao tù CS, một anh hiện đang sống ở Cali, đó là anh Lâm, em ruột của anh Nguyễn Ngọc Trâm, còn người kia, trước ngày tôi rời Saigon, anh ấy đang vất vã hành nghề thợ mộc ngoài Vũng Tàu. Hy vọng một ngày không xa, anh Độ cũng như bao nhiêu anh hùng Biệt Kích khác còn ở VN sẽ được đoàn tụ với chúng ta tại quê hương thứ hai này. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Trung Tá Nguyễn Văn Vinh&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-511500019759683946?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/511500019759683946/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/08/nha-ky-thuat-trung-ta-nguyen-van-vinh.html#comment-form' title='2 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/511500019759683946'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/511500019759683946'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/08/nha-ky-thuat-trung-ta-nguyen-van-vinh.html' title='Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Nguyễn Văn Vinh'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldOJ0jpDnI/AAAAAAAAEx4/WgbGnGVNmKQ/s72-c/trungtavinh.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>2</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-7081639660474089764</id><published>2009-08-12T22:50:00.000-07:00</published><updated>2009-08-12T22:58:51.627-07:00</updated><title type='text'>Kế-hoạch 37 (Oplan 37) Biệt-hải.</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoOqOcZy1FI/AAAAAAAAFxY/6bWtll_TQ40/s1600-h/72D33149CF774EC491DF2D1CD8444CDA.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 268px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoOqOcZy1FI/AAAAAAAAFxY/6bWtll_TQ40/s400/72D33149CF774EC491DF2D1CD8444CDA.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5369322345875035218" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt;Bắt đầu từ những tháng đầu năm 1961, cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) điều khiển những trận tấn công bất ngờ, phá hoại căn cứ quân sự dọc theo bờ biển miền Bắc. Các cuộc đột kích kể trên do những toán Biệt Hải đảm trách (Marops). &lt;/span&gt;  &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt;Ðến mùa thu năm 1962, sau khi đã đọc bản báo cáo kết qủa về những cuộc hành quân trên. Ðô Ðốc Harry Felt hết ý-kiến, cơ-quan CIA có-lẽ đã hết trò chơi... các cuộc hành quân biệt-hải không gây thiệt hại nào đáng kể cho chính quyền miền Bắc. Vị tư-lệnh Lực-Lượng Hoa- Kỳ trong vùng Thái-Bình- Dương hiểu biết về vấn đề hành quân biển hơn ai hết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những toán biệt-hải do cơ quan CIA tuyển mộ xử dụng những chiếc tầu nhỏ mong manh, trang bị hỏa lực yếu kém. Ngay cả việc lái chiếc tầu nhỏ đến mục tiêu đã là một vấn đề khó khăn. Thực ra, trùm Xiạ (CIA) Bill Colby, người chịu trách nhiệm chỉ làm theo lệnh của Washington.&lt;/span&gt;  &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt; Ðến tháng Bẩy 1962, vị tư lệnh hành-quân biển, Ðô-Ðốc George Anderson được mời tham gia tổ chức những trận đột kích quấy rối bờ biển miền Bắc. Kế hoạch này nhằm mục đích làm cho Bắc Việt không còn đủ sức yểm trợ cho quân Việt-Cộng trong miền Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người trực tiếp chịu trách nhiệm cho kế hoạch này la xịa (CIA) Tucker Gougelmann. Ông ta lập căn cứ nơi Ðà-Nẵng trong name 1961 và bắt đầu đưa những toán biệt hải ra ngoài Bắc. Kế hoạch hành quân biển (Marop) do cơ quan CIA điều khiển chỉ có tầm hoạt động giới hạn.&lt;/span&gt;  &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt; Nhiệm vụ chính là lấy tin tức, dò-thám bờ biển miền Bắc. Theo những tài liệu đã hết thời gian bảo mật, giai đoạn đầu trong kế hoạch rất lặng-lẽ, tránh đụng độ với Hải-Quân Bắc Việt. Năm 1962, Gougelmann đưọc lệnh của Washington bắt đầu những trận đột kích phá hoại để trả đủa cho những hoạt động gia tăng của quân đội Bắc-Việt, và cũng để xây đựng những ổ kháng chiến nơi miền Bắc trong tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổng-Thống Kenedy thúc nay cơ-quan CIA gia tăng những hoạt động bí mật ra ngoài miền Bắc Việt-Nam. Ðơn-vị Biệt-Hải dưới quyền Gougelmann xử dụng loại thuyền máy cũ-kỹ đóng ở trong miền Nam cho các trận đột kích. Ðiều này làm Ðô Ðốc Felt không đồng ý, thuyền máy đã cũ không thể dùng để tấn công bất ngờ. Loại hành quân này cần tốc độ và bí mật. Khi Washington ra lệnh gia tăng các cuộc hành quân biệt hải, Hải-Quân Hoa-Kỳ được lệnh yểm trợ, cung cấp đồ trang bị cho cơ quan CIA để cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ. &lt;/span&gt;  &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Tám 1962, Tướng Harkins tư-lệnh Bộ Chỉ-Huy Quân-Viện dự trù xử dụng loại tầu Torpedo (phóng thủy lôi) được căn cứ tiếp vận hải quân ở Ðà-Nẵng yểm trợ cho những hành quân biệt hải ra ngoài Bắc. Kế hoạch này được chính quyền Kenedy chấp thuận vào cuối tháng chín. Hải-Quân Hoa-Kỳ bắt đầu cứu xét, tìm loại tầu thích hợp cho các hành quân biệt-hải. Tháng Mười, phụ-tá Tổng- Trưởng Quốc-Phòng Hoa-Kỳ Roswell Gilpatric ra lệnh cho Ðô-Ðốc Anderson giao hai loại Topedo đóng từ năm 1950 PT-810, PT-811 cho cơ-quan CIA.&lt;br /&gt;Hai loại này trang bị hai đại bác 40 ly, hai đại bác 20 ly, và được đặt tên mới là PTF-1, PTF-2 (Tầu tuần tiễu nhanh - Patrol Type Fast)..&lt;/span&gt;  &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt; Ðầu năm 1963, Hải-Quân Hoa-Kỳ mua hai loại tầu Nasty (PTF-3, PTF-4) của Hải-Quân Na-Uy, loại này chạy rất nhanh và tránh được radar. Mặc dầu chuyện bí mật, Ðô-Ðốc Anderson gửi hai loại tầu Nasty đến Washington biểu diễn hành quân và yểm trợ đổ bộ. Cuộc biểu diễn trên sông Potomac do các toán biệt kích Người-Nhái SEAL, cũng mới thành lập đảm trách. Cơ quan CIA nhận được những chiếc tầu Nasty trong những tháng cuối năm 1963. Ðể lái loại tầu này xâm nhập hải-phận Bắc Việt-Nam, cơ quan CIA tuyển mộ lính đánh thuê người Na-Uy và Ðức. Trợ lức cho cơ-quan CIA, Hải- Quân Hoa-Kỳ cho mượn đơn vị SEAl để huấn luyện biệt kích quân Việt-Nam về hành quân phá hoại và cung cấp đồ tiếp vận cũng như bảo trì các loại tầu PTF.&lt;/span&gt;  &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi chương trình đang tiếp diễn, Tổng Thống Kenedy ra lệnh xúc tiến kế hoạch Ðổi-Lui (Switch Back). Tất cả các hoạt động của cơ quan CIA nơi miền Bắc Việt Nam được bàn giao cho Ngũ- Giác-Ðài, Bộ Tổng-Tham- Mưu Quân-Lực Hoa-Kỳ, kể cả chương trình Hành-Quân&lt;/span&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt;Biệt-Hải. Mới đầu nằm trong kế-hoạch 34-A, một bộ phận trong Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG). Ðầu name 1964 đơn vị SOG thành lập Ban Cố-Vấn Hải-Quân, danh xưng cho kế-hoạch 37 ở Ðà- Nẵng. Ban Cố-Vấn Hải-Quân thực sự làm việc từ đầu tháng Giêng năm 1964, nhiệm vụ bao gồm các hành quân biệt hải bí mật. Năm sau, một văn phòng liên lạc được thành lập trong đơn vị SOG trông coi kế hoạch 31 (OP-31) văn phòng này lo về nhân viên, Ban Cố-&lt;/span&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt;Vấn Hải-Quân (NAD) là cánh tay hành động. Nằm dưới quyền chỉ huy của SOG. Tìm một sĩ-quan hải-quân cấp bậc đại-tá trong Quân-Lực Hoa- Kỳ không khó, tuy nhiên viên sĩ quan này phải rành về Chiến-Tranh Ngoại-Lệ mới có thể làm việc cho đơn vị SOG. &lt;/span&gt;  &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt;Kết qủa là Ban Cố-Vấn Hải-Quân thay cấp chỉ huy liên tục, Vị chỉ huy đầu tiên là Jack Owens được một năm, Ðại-Tá Bob Fay lên thay. Không như sĩ-quan hải-quân thuần túy Owens, Fay xuất thân từ đơn vị Người Nhái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 28 tháng Mười năm 1965, chiếc xe Jeep chở ông ta trúng đạn pháo kích của Việt- Cộng và là sĩ quan Hoa-Kỳ đầu tiên trong đơn vị biệt-hải tử trận trên chiến trường Việt- Nam. Ðại-Tá Fay mới chỉ huy NAD được sáu tháng, những cấp chỉ huy kế tiếp cũng không rành về chiến tranh ngoại lệ, họ đều mang cấp bậc Hải-Quân Ðại-Tá. Sau Fay, NAD được chỉ huy bới các vị sĩ quan William Hawkins, Willard Olson, Robert Terry và Norman Olson. Kế-Hoạch 37 do NAD đảm trách được giao cho trách nhiệm tấn công, phá hoại những mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vùng hoạt động từ vĩ-tuyến 17 ra đến vĩtuyến 21, và trong vòng 30 dặm dọc theo bờ biển, Theo lệnh hành-quân, khu vực hoạt động của các toán biệt hải nằm dưới hải cảng Hải- Phòng. Sáu loại nhiệm vụ được giao phó, 'Ngăn chận và&lt;/span&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt;quấy phá' bao gồm ngăn chận, bắt tù-binh, thẩm vấn, tiêu-hủy v.v... tất cả các loại tầu võ trang, tiếp vận của miền Bắc.&lt;br /&gt;Phá hoại đường tiếp vận biển, tiếp tế cho Việt- Cộng trong miền Nam. Bắn phá các mục tiêu dọc theo bờ biển. &lt;/span&gt;  &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt;Ðột kích lên bờ, tấn công các căn cứ quân, dân sự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thả biệt-kích, điệp viên xâm nhập miền Bắc. Tâm-lý chiến, thả truyền đơn, radio, qùa tặng cho nhân dân miền Bắc. Mặc dầu đơn vị SOG tài trợ, huấn luyện, tất cả những cuộc hành quân biệt hải, vượt tuyến đều do biệt-kích, người nhái Việt Nam đảm trách. Trong năm 1964, Ban Cố- Vấn Hải-Quân (NAD) gồm bẩy ban, những ban quan trọng lo việc huấn luyện thủy thủ đoàn lái tầu Nasty, và các toán biệt-hải. Kế hoạch 37 phối hợp giữa đơn vị SOG và Nha Kỹ-Thuật QL/VNCH. NAD soạn thảo kế hoạch hành quân, huấn luyện thủy thủ, biệt-kích và tài trợ cho kế hoạch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sở Phòng-Vệ Duyên- Hải trực thuộc Nha Kỹ-Thuật lo những vấn đề yểm trợ khác, sở này có năm toán 15 quân nhân biệt-hải, mười toán nhân viên thủy thủ đoàn lái tầu Nasty và toán bảo trì. &lt;/span&gt;  &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt;Tất cả nằm trong kế-hoạch 37. Nhiệm vụ chính của sở là tuyển mộ thủy thủ, biệt-kích quân. Tất cả mọi cuộc hành quân biệt-hải đều phải được sự chấp thuận của giới chức thẩm quyền ở thủ-đô Washington D.C. Cơ-quan NAD chọn mục tiêu, soạn thảo kế-hoạch hành quân, phối hợp và điều khiển cuộc hành quân. Từ tháng Tư cho đến tháng Mười Hai năm 1964, các toán biệt hải vượt tuyến tất cả 32 lần tấn công, phá hoại các mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc như trạm kiểm soát, cầu, các đảo nhỏ, đài radar.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Ngày 12 tháng Sáu, biệt hải phá hủy một nhà kho, cuối tháng phá xập một cây cầu ở ngoài Bắc. Trong tháng Bảy, phá hủy một nhà máy bơm nước, đánh chìm ba tầu nhỏ. Ngày 30 tháng Bảy, bốn chiếc PTF chạy ra ngoài bắc bắn phá. Họ đến điểm hẹn đông nam Hòn Me (19 độ Bắc, 106 độ 16' đông). Từ đó chia tay, PTF-3 và PTF-6 hướng về Hòn Me, PTF-5, PTF-2 đi về Hòn Niêu. Cả hai đến bắn phá binh trạm, xưởng ráp súng, đài tiếp liên trước khi chạy về hướng nam do tầu Swatows của Hải Quân Bắc Việt đuổi theo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 102);"&gt;Chuyện này liên quan đến vụ chiến hạm Maddox ngoài khơi vịnh Bắc Việt. Cuối năm 1964, đơn vị SOG ra lệnh cho NAD gia tăng các chuyến hành quân biệt-hải. Kết qủa trong năm 1965, có 170 chuyến vượt tuyến bắn phá, quấy rối hải phận miền Bắc Việt-Nam. Năm 1966, NAD tổ chức 126 hành quân chính và 56 phụ. Hà-Nội đã tăng cường lực lượng duyên phòng dọc theo bờ biển gây trở ngại nguy hiểm cho các toán biệt-hải. Càng khó khăn hơn cho những trận tấn công đột kích lên bờ, trong 34 trận tấn công loại này chỉ có bốn trận được coi như thành công.&lt;br /&gt;Bắt đầu từ năm 1967, các hành quân biệt hải trong kế hoạch OP 37 giảm đi cường độ. Năm 1967 chỉ có 151 cuộc hành quân, hoàn tất 125, hủy bỏ 19 vì vấn đề thời tiết, 7 bị hư hại tầu bè hoặc nhân viên. Ngày 1 tháng 11 năm 1968, mọi cuộc hành quân vượt tuyến trong kế hoạch OP 37 đều đình chỉ. Ðến tháng Bảy năm 1971, Sở Phòng-Vệ Duyên-Hải hoàn toàn chịu trách nhiệm cho các chuyến hành quân biển.&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-7081639660474089764?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/7081639660474089764/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/08/ke-hoach-37-oplan-37-biet-hai.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/7081639660474089764'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/7081639660474089764'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/08/ke-hoach-37-oplan-37-biet-hai.html' title='Kế-hoạch 37 (Oplan 37) Biệt-hải.'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SoOqOcZy1FI/AAAAAAAAFxY/6bWtll_TQ40/s72-c/72D33149CF774EC491DF2D1CD8444CDA.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-726315170891318663</id><published>2009-08-09T23:01:00.000-07:00</published><updated>2009-08-09T23:02:30.921-07:00</updated><title type='text'>HÀNH-QUÂN BIỆT-KÍCH Năm Khói-Lửa 1968</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sn-38coVNMI/AAAAAAAAFp4/7NYqmJ7ecpg/s1600-h/danhdutoquochom3dencay222.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 222px; height: 221px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sn-38coVNMI/AAAAAAAAFp4/7NYqmJ7ecpg/s400/danhdutoquochom3dencay222.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5368211529954309314" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;HÀNH-QUÂN BIỆT-KÍCH Năm Khói-Lửa 1968&lt;br /&gt;- Mở Đầu&lt;br /&gt;Đầu năm 1968, Khe-Sanh là một trại biên phòng Lực-Lượng Đặc-Biệt. Đơn vị SOG xử dụng trại này làm căn cứ hành-quân tiền-phương. Nơi đây trở nên tiền đồn bảo vệ phía tây vùng phi-quân-sự. Trong căn cứ có 6000 quân thuộc trung-đoàn 26 TQLC/HK và tiểu-đoàn 37 Biệt-Động-Quân QL/VNCH. Bên ngoài có sự hiện diện của 20000 quân cộng-sản Bắc-Việt. Tất cả mọi hỏa lực đều tập trung xung quanh căn cứ, pháo binh, phi cơ, kể cả B-52 yểm trợ ngày đêm. Sự có mặt, cũng như hành quân vượt biên của đơn vị SOG được bảo mật, không ai biết đến.&lt;br /&gt;- Phần 2&lt;br /&gt;Bên trong Khe-Sanh, đơn vị SOG gồm 50 quân nhân LLĐB/HK và khoảng 500 Dân-Sự Chiến Đấu sống dưới hầm cũng như binh-sĩ TQLC/HK chịu đựng 1500 quả đạn đại-bác, súng cối của địch bắn vào căn cứ hàng ngày. Bên ngoài Khe-Sanh, trên những ngọn đồi, tử thần rình rập, các toán biệt-kích SOG phát xuất từ căn cứ hành quân tiền phương 1 (FOB 1) ở Phú-Bài, xâm nhập tìm mục tiêu cho phi cơ oanh-kích, đặt máy nghe lén điện thoại, và đặt máy dò thám điện tử.&lt;br /&gt;Nơi hướng tây căn cứ Khe-Sanh bên kia biên giới Lào-Việt, các toán biêt-kích SOG khác phát xuất từ 'cửa hâu' của đơn vị SOG, phi trường Nakhon Phanom (NKP) bên Thái-Lan. Tại đây, SOG có bẩy nhân viên làm việc với phi-đoàn 21 'Pony' Hành-Quân Đặc-Biệt thuộc Không-Lực Hoa-Kỳ, đơn vị anh-em của SOG phi đoàn 20 Green Hornets. Từ tháng Giêng 1967, Ponies yểm trợ cho các toán biệt-kích SOG hoạt động ngoài miền Bắc Việt-Nam, các hoạt động của cơ-quan CIA bên Lào và đến cuối năm thả các toán biệt-kích SOG xâm nhập vào đất Lào. Căn cứ bên Thái-Lan trở nên quan trọng từ đầu năm 1968 khi trực thăng của SOG không hoạt động được trên phi đạo bên trong căn cứ Khe-Sanh.&lt;br /&gt;Một trong những mục tiêu thường xuyên của SOG bên Lào là rặng núi Cơ-Rốc, cao 1800 bộ về hướng tây Khe-Sanh, quân Bắc Việt, đào hầm hố, đục đá núi làm đường chuyển quân. Ngày 12 tháng Giêng năm 1968, toán biệt-kích Indiana bị phục kích trên một sườn núi. Toán chạy lạc, phân tán, toán phó là Trung-Sĩ Jim Cohron cùng hai biệt-kích Nùng tách rời khỏi toán. Phần còn lại chạy đến được một con đường mòn, tìm cách liên lạc với Cohron. Nhóm này thoát, còn nhóm Cohron mất tích.&lt;br /&gt;Tình báo Hoa-Kỳ cho rằng, toán Indiana đụng phải trung-đoàn 'Đồng Nai' CSBV. Hệ thống kiểm thính bắt được tần số của địch cho biết Cohren bị địch bắt và bị hỏi cung. Cho đến nay, Hà-Nội vẫn trả lời không biết gì về người lính Mũ-Xanh Hoa-Kỳ, quê quán ở tiểu bang Iowa.&lt;br /&gt;Cách căn cứ Khe Sanh năm dặm về hướng tây, trong bóng của rặng Cơ-Rốc bên kia biên giới là trại LLĐB Lang-Vei do Đại-Úy Frank Willoughby chỉ huy. Do áp lực của quân đội Bắc Việt vào đầu năm 1968, 282 quân biệt-kích người Thượng được tăng cường thêm một đại đội biệt kích Thượng và quân Mũ-Xanh Lực-Lượng Đặc-Biệt Hoa-Kỳ.&lt;br /&gt;Phần còn lại của toán Indiana đến trại LLĐB Lang-Vei một buổi tối cuối tháng Giêng sau nhiều ngày bị địch săn đuổi trên ngọn núi Cơ-Rốc. Trưởng toán Rick Bayer thông báo cho người hạ-sĩ-quan LLĐB của trại Bill Craig rằng: Toán biệt-kích Indiana trông thấy dấu xích xe-tăng của địch! Thêm điều nữa, trong khi đi ngang qua sông Xe-Kong lúc trời xập tối, toán biệt-kích trông thấy quân Bắc Việt thăm dò mực nước sông và đánh dấu bãi chuẩn bị hành quân vượt sông. Bayer không hoài nghi chuyện quân đội Bắc Việt sẽ đem xe tăng vào chiến trường miền Nam.&lt;br /&gt;Khi được đưa vào Saigon để báo cáo, Trung-Sĩ Bayer nhớ lại 'Họ cho tôi là thằng nói dóc!'. Cấp chỉ huy của anh ta trong FOB 1, Thiếu-Tá Ed Rybat cũng mất mặt không kém. 'Tụi tôi gửi báo cáo về, họ trả lời rằng không có gì hết, đó là dấu xe ủi đất'. T ôi đã phục vụ trong đơn vị Thiết-Giáp trước đây, tôi bìết thế nào là dấu xích xe tăng. 'Đó là dấu thiết vận xa lội nước PT-76 của địch'. Trong Saigon, trùm đơn vị SOG là Đại-Tá Singlaub tin rằng quân Bắc Việt chuẩn bị xe-tăng để tấn công. Bộ Chỉ-Huy Quân Viện Hoa-Kỳ MACV bỏ qua lời báo động của ông ta.&lt;br /&gt;Vừa quá nửa đêm ngày 6 tháng Hai, binh sĩ TQLC nơi giao thông hào phiá tây căn cứ Khe-Sanh nghe tiếng động cơ theo gío đưa tới, nghe như tiếng cưa máy - Xe Tăng! Trong trại LLĐB Lang-Vei, mặt đất rung chuyển khi mười một chiến xa PT-76 cùng một tiểu đoàn bộ-binh Bắc Việt được pháo binh 152 ly yểm trợ tràn vào trại. Đại bác 76 ly trên chiến xa bắn xập các pháo đài bên trong. Hơn nửa Dân Sự Chiến Đấu Thượng chết tại vị trí chiến đấu, sau khi bắn hết đạn súng Carbine, đại liên vào các chiến xa đang tiến tới của địch. Lính Mũ-Xanh Hoa-Kỳ dùng súng cối 106 ly tiêu diệt hơn nửa số PT-76.&lt;br /&gt;Trùm đơn vị SOG thông báo về vụ tấn công trại LLĐB Lang-Vei cho cơ-quan MACV, vị tướng trưởng phòng Nhì cơ quan vẫn từ chối không tin. 'Làm gì có xe tăng ở Việt-Nam'. Trong khi trận đánh nơi Lang-Vei vẫn đang tiếp diễn, đơn vị SOG trong Khe-Sanh chuyển lời cầu cứu của trại LLĐB cần viện binh. Đại-tá David Lownds chỉ huy trưởng căn cứ Khe-Sanh từ chối ' Tôi không muốn hy sinh sinh mạng người Hoa-Kỳ'. Biệt-kích SOG kể rằng 'Ông ta liếc qua tụi tôi chớp nhoáng như máy quang tuyến, rồi khước từ một cách dã man'.&lt;br /&gt;'Đúng vậy, chúng tôi có thoả thuận rằng sẽ đi tiếp cứu trại LLĐB Lang-Vei trong trường hợp căn cứ này có thể bị dứt điểm' Thiếu-Tá Jim Stanton, sĩ quan điều hợp pháo-binh TQLC trong căn cứ Khe-Sanh đã xác định bằng lời nói trên. 'Tình trạng chiến đấu trong căn cứ đã xuống thấp, không ai dám bảo đảm vấn đề an-toàn cho họ'.&lt;br /&gt;- Phần 3&lt;br /&gt;Sĩ-quan tùy viên cho tướng Westmoreland đánh thức ông ta dậy hai lần trong đêm cho biết trận tấn công trại LLĐB Lang-Vei. Đại-Tá Francis Kelly, chỉ huy trưởng Liên-Đoàn 5 LLĐB/HK yêu cầu ông gửi quân tiếp viện cho Lang-Vei, nhưng tướng Westmoreland ngần ngại ra lệnh cho bộ tư-lệnh TQLC/HK. Cá nhân tướng Westmoreland xem chuyện từ chối không tiếp viện cho trại LLĐB do sự mâu-thuẫn giữa bộ chỉ huy MACV của ông ta và bộ tư-lệnh TQLC/HK. Ông ra lệnh triệu tập một buổi họp với các vị tướng lãnh TQLC/HK tại Đà-Nẵng sáng hôm sau.&lt;br /&gt;Trong trại LLĐB Lang-Vei, quân Bắc Việt đã hoàn toàn làm chủ tình hình. Sĩ quan quân đội Bắc Việt ra lệnh tất cả quân nhân LLĐB/Việt-Mỹ mở cửa hầm chỉ huy và ra đầu hàng. Sĩ-quan Việt-Nam ra trình diện dường như bị bắn tại chỗ. Quân Bắc Việt dùng chất nổ phá cửa hầm, sức nổ làm tám quân Mũ-Xanh Hoa-Kỳ bất tỉnh.&lt;br /&gt;Đến Đà-Nẵng, Tướng Westmoreland ra lệnh cho Trung-Tướng Robert Cushman cung cấp trực thăng đưa một đơn vị cấp cứu SOG trong căn cứ Khe-Sanh vào Lang-Vei ngay tức khắc. Sau này tướng Westmoreland biết được lệnh của ông ta không được thi hành. Ông ta viết 'Đó là điều xẩy ra trong thời gian tôi phục vụ tại Việt-Nam. Chuyện đó làm tôi muốn xin về hưu'.&lt;br /&gt;Tại Khe-sanh, Thiếu Tá George Quamo, Thượng-Sĩ Charles 'Skip' Minnicks có thể nhìn thấy khói bốc lên từ trại LLĐB Lang-Vei. Quamo nói về sự nguy-hiểm đang chờ đợi họ, và hỏi 'Ai muốn đi?'. Một tá lính Mũ-Xanh Hoa-Kỳ xách tiểu-liên CAR-15, tập họp ba mươi biệt-kích Nùng, Thượng rồi leo lên trực thăng TQLC/HK ra đi.&lt;br /&gt;Sự thờ-ơ của TQLC ảnh hưởng viên phi công lái trực thăng, không nhiệt tâm đi cứu. Kinh hoàng trông thấy xe tăng cháy, doanh trại đổ nát ở dưới, mất tay phi công CH-46 lái bay vòng vòng trên không. Cuối cùng Thiếu-tá Quamo ra lệnh 'vào' lúc đó họ mới hạ cánh.&lt;br /&gt;Xuống tới đất, toán biệt-kích SOG, chia ra lục xoát các hầm hố, công sự phòng thủ tìm người sống sót. Hàng ngàn quân Bắc Việt trú ẩn xung quanh Lang-Vei sợ không-lực Hoa-Kỳ oanh-kích không tấn công tiếp. Hầu hết người Hoa-Kỳ sống sót nhờ Trung-Sĩ Nhất Eugene Ashley, chết sáng hôm đó trong những đợt phản công đẩy lui quân cộng sản ra khỏi Lang-Vei. Anh ta được ân thưởng huy chương Danh-Dự cao qúy nhất của chính phủ Hoa-Kỳ. Vài lính Mũ-Xanh Hoa-Kỳ thoát nhờ Thiếu-Úy Qúy lái xe Jeep xông vào trại đem họ đi.&lt;br /&gt;Toán biệt-kích SOG gom tất cả những biệt-kích Hoa-Kỳ sống sót và đem thêm với khả năng của họ những biệt-kích quân Thượng bị thương ra bãi đáp chờ trực thăng bốc. Khi đoàn tầu bay lên, trưởng toán Alabama John Allen trông thấy một quân nhân Hoa-Kỳ chạy ra bãi đáp vẫy tay. Không thể quay trở lại, anh ta bị bỏ rơi cho số mệnh. Người biệt kích Hoa-Kỳ đó tên là Dennis Thompson, bị tù năm năm trước khi được trả tự do. Trong số hai mươi bốn quân nhân biệt-kích Hoa-Kỳ ở trại LLĐB Lang-Vei, Thiếu-Tá Quamo đem về được mười bốn, trong đó có một bị thương.&lt;br /&gt;Đơn vị SOG đóng góp trong trận bao vây Khe-Sanh, cũng là thành quả lớn nhất của họ thâu thập bên Lào trong năm 1968, khám phá được căn cứ lớn, bộ chỉ huy, kho chứa đạn dược của địch gần rặng núi Cơ-Rốc. Phi vụ B-52 Arc Light được lệnh tiêu hủy mục tiêu này kết qủa gây ra nhiều tiếng nổ phụ trong vòng hai tiếng đồng hồ. Trong nhật ký của tướng Westmoreland, ông ta tin rằng trận đánh bom B-52 trúng bộ chỉ huy đầu não của địch trong trận bao vây Khe-Sanh. Hệ thống truyền tin của địch bị mất liên lạc trong vòng hai tuần lễ, chứng tỏ có sự bối rối trong hệ thống chỉ huy của địch, do đó quân Bắc Việt không mở trận tấn công lớn vào căn-cứ Khe-Sanh trong kỳ Tết Mậu-Thân.&lt;br /&gt;Cuối tháng Ba, trong khi sư-đoàn 1 Không-Kỵ Hoa-Kỳ bắt đầu hành quân giải tỏa áp-lực của địch xung quanh căn cứ Khe-Sanh. Toán biệt-kích Asp xâm nhập khu vực cách Khe-Sanh 25 dặm về hướng tây bắc, theo dõi sự triệt thoái của các đơn vị Bắc Việt. Trưởng toán Asp là Trung-Sĩ Nhất George Brown, có Trung Sĩ Charles Huston và Alan Boyer. Toán Asp bị một đơn vị lớn của địch tấn công bất thần.&lt;br /&gt;Một chiếc Kingbee vào cứu Brown và Huston bị hỏa lực địch bắn vào không được. Một chiếc Kingbee khác trông thấy Alan Boyer, thả thang dây xuống cứu anh ta, đạn bắn đứt thang dây, anh này rơi xuống vào giữa địch quân. Tất cả đều mất tích.&lt;br /&gt;Hai trăm lẻ năm TQLC Hoa-Kỳ tử trận trong bẩy mươi bẩy ngày bao vây căn-cứ Khe-Sanh. Thiếu-Tá Quamo chỉ huy cuộc cứu nguy trại LLĐB Lang-Vei, lên máy bay của đơn-vị SOG bay về Đà-Nẵng. Chiếc máy bay cũng biến mất luôn vì thời tiết xấu. Xác Thiếu-Tá Quamo tìm được năm 1974. Vài tuần sau, căn cứ hành quân tiền phương (FOB) ở Khe-Sanh đóng cửa. SOG dời FOB qua trại LLĐB Mai-Lộc đông bắc Khe-Sanh.&lt;br /&gt;Trong khi trận chiến dịu dần xung quanh căn cứ Khe-Sanh, các toán biệt-kích SOG khác vượt biên qua Cambodia, dò thám xem địch quân đã rút qua đất Miên hay chưa, sau trận Tổng-Công-Kích. Ngày 2 tháng Năm 1968, toán biệt-kích do Trung-Sĩ Nhất Leroy Wright làm trưởng toán xâm nhập vùng Lưỡi Câu. Trong toán có Trung-Sĩ Lloyd 'Frenchie' Mousseau, Brian O'Connor và chín biệt-kích Nùng.&lt;br /&gt;- Phần 4&lt;br /&gt;Buổi sáng lúc toán ra đi từ căn cứ Quản-Lợi, Trung Sĩ Nhất Roy Benavidez bạn của Wright ra tiễn đưa, cảm phục những người ra đi hoạt-động trong lòng địch. Chẳng bao lâu, khi xuống bãi đáp, toán chạm địch và chạy trở lại bãi đáp. Địch đuổi theo sát đuôi, bắn không cho toán biệt-kích ngóc đầu dậy và đuổi những chiếc trực thăng cấp cứu ra chỗ khác. Một trực thăng võ trang bị bắn rớt.&lt;br /&gt;Địch đem thêm quân đến bao vây toán biệt-kích đang nằm chịu trận dưới hỏa lực súng cối, B-40, AK-47. Một loạt đạn AK trúng Wright vào đầu, anh ta chết ngay tức khắc. Mousseau và O'Connor bị thương nhiều chỗ. Tất cả các biệt-kích Nùng đều trúng đạn, nằm la liệt, bị thương hoặc chết. Không chạy được, hết thuốc chữa, toán biệt kích sắp sửa bị địch thanh toán.&lt;br /&gt;Trong một túp lều dã chiến dựng lên nơi căn cứ hành quân tiền phương Quản-Lợi, Roy Benavidez lắng nghe những chuyện xẩy ra từ máy truyền tin, điện đàm giữa các phi công trực thăng võ trang, và phi công lái máy bay quan sát điều hành không yểm (FAC). Roy sốt ruột lo cho các chiến hữu của mình, Leroy Wright trúng đạn, Frenchie Mousseau trúng đạn, Brian O'Connor cũng trúng đạn và tất cả biệt-kích Nùng đều trúng đạn chết hoặc bị thương nặng. Một lữ-đoàn thuộc sư-đoàn 1 Bộ-Binh Hoa-Kỳ đang hành quân gần đó nhưng họ không được phép vượt rào qua Cambodia. Toán cấp cứu Bright Light cũng không có sẵn. Mình phải làm gì đây! Roy đứng ngồi không yên.&lt;br /&gt;Bị mất nhiều máu, Brian O'Connor yếu đi, anh nghe tiếng trực thăng đến nhưng không di chuyển được. Chiếc máy bay hạ thấp rồi Roy Benavidez xách túi đựng dụng cụ y-khoa nhẩy xuống chạy thật nhanh vào bụi rậm nơi các biệt kích SOG nằm la liệt. Roy tình nguyện đi cứu toán một mình. Địch trông thấy trực thăng đáp xuống, bắn ra tới tấp, một viên trúng vào đùi Roy, chàng vẫn tiếp tục chạy, không dám ngừng lại. Vào đến nơi, Roy liếc thật nhanh, vị trí chiến đấu của toán biệt-kích, Wright đã chết, Mousseau trúng đạn vào đầu, nằm thẳng cẳng nhưng chưa chết, O'Connor bị thương nhưng vẫn còn bò lết được. Roy Benavidez băng bó cho bạn, phân phối đạn còn lại từ những biệt kích quân đã chết. Chàng lãnh thêm một viên AK nữa vào đùi phải trong khi điều khiển trực thăng oanh kích và trực thăng vào đem những người còn sống ra.&lt;br /&gt;Khi chiếc trực thăng hạ cánh, Roy đưa khẩu AK cho O'Connor, chàng vác theo xác Wright. Một viên AK khác trúng vào phổi, Roy ngã xuống gần ngất đi. Chiếc trực thăng trúng đạn súng cối tiêu hủy, viên phi công và người xạ thủ đại liên chết. Roy lết lại chiếc trực thăng, giúp những người còn sống ra khỏi máy bay trúng đạn trước khi bốc cháy. Chàng tiếp tục điều khiển phản lực Phantom F-4 oanh kích, và lãnh thêm hai viên AK nữa. Địch bắn rớt thêm một chiếc gunship.&lt;br /&gt;Rồi một chiếc Huey khác vào bãi đáp, trên máy bay có y-tá LLĐB Trung-Sĩ Ronald Samsons, anh ta giúp Benavidez kéo, dìu phi hành đoàn chiếc trực thăng trúng đạn, xác biệt kích quân lên máy bay. Trên đường về Benavidez bất tỉnh vì mất nhiều máu và kiệt sức, Mousseau chết vì vết thương quá nặng nơi đàu. Wright và Mousseau (chết) được lãnh huy chương Ngoai-Hạng (Distinguish Service Cross). Benavidez nằm bệnh viện gần một năm chữa bẩy vết thương đạn AK, hai mươi tám miểng B-40, cối 61 ly của địch. Roy Benavidez cứu tám người, tuy nhiên giấy tờ thất lạc. Mười ba năm sau, đã về hưu, Thượng-Sĩ Benavidez được máy bay quân đội đưa đi Washington và được tổng thống Reagan gắn huy chương Danh-Dự (Medal of Honor).&lt;br /&gt;Sau ngày Benavidez cứu toán biệt-kích trong tháng Năm 1968 bên Miên. Toán Alabama xâm nhập Lào cách thung lũng A-Shau 15 dặm để gắn máy nghe lén điện thoại. Trưởng toán là Trung-Sĩ John Allen, cùng với Kenneth Cryan, Paul King và sáu biệt kích Nùng. T oán Alabama xâm nhập vùng tình nghi có sự hiện diện của một sư-đoàn Bắc Việt, đơn vị này rút qua Lào khi sư-đoàn Đệ Nhất Không-Kỵ Hoa-Kỳ mở cuộc hành quân càn quét khu vực xung quanh thung lũng A-Shau.&lt;br /&gt;Khi trực thả toán biệt-kích bay gần đến bãi đáp, Allen trông thấy hầm hố, công sự phòng thủ của địch dưới rặng cây. Không thấy bóng dáng quân Bắc Biệt tại đîa điểm thả toán, Allen ra hiệu 'xuống' và toán biệt-kích bắt đầu làm nhiệm vụ. Họ di chuyển khoảng một tiếng đồng hồ, giác quan thứ sáu báo động cho Allen biết (Allen đã có kinh nghiệm đi 20 chuyến qua Lào và một chuyến Bright Light ngoài miền Bắc). Chàng hút-gió báo cho toán phó Ken Cryan biết 'Có điều gì nhìn không bình thường, ngửi cũng khác thường, có chuyện khác thường'. Allen cùng một biệt kích Nùng tiến tới đằng trước quan sát.&lt;br /&gt;Hai người lên trước khoảng 250 thước, họ trông thấy khoảng đất rộng đã được dọn dẹp, những nhánh cây cao trên đầu cột lại che dấu khoảng đất trống ở dưới. Ở giữa có một căn nhà làm bằng tre, rõ ràng là bộ chỉ huy của địch với lính Bắc Việt ra vào. Xa hơn chút nữa có đường hầm rộng đủ hai người cùng đi đào sâu vào trong núi. Allen chụp mấy tấm ảnh rồi lùi về chỗ toán Alabama.&lt;br /&gt;Toán phó Ken Cryan cho biết vài địch quân đi ngang qua, có lẽ toán lùng biệt-kích. Allen quyết định 'cắt đuôi', rồi cả toán nghe tiếng la lối, tiếng xục-xạo trong các bụi rậm trên lộ trình họ vừa di chuyển qua. Toán biệt-kích 'dọt', vài phút sau, biệt-kích hướng đạo (đi-đầu - Point man) dẫn toán băng qua một con đường mòn lớn, có lẽ dẫn tới bộ-chỉ-huy. Âm thanh truy kích của toán lùng biệt-kích chỉ cách phiá sau chừng 50 thước, Allen quyết định tăng tốc độ di chuyển. Họ băng qua một đường mòn nữa rồi nghe tiếng gọi nhau của địch phiá bên phải, và tiếng trả lời phiá sau. Toán biệt kích chạy 'hết tốc lực' lên một ngọn đồi. Súng AK của địch nổ vang dội, một biệt kích đáp lại một tràng CAR-15. Cryan qụy xuống ôm lấy đùi bên phải, Allen chạy lại xốc nách Cryan dìu đi mặc dù Cryan nói hãy chạy đi để chàng ở lại. Một biệt-kích Nùng trúng một viên AK ngay ngực gục xuống đất chết, được đồng đội cõng theo.&lt;br /&gt;- Phần 5&lt;br /&gt;Trong khi Paul King gọi máy cấp cứu, Allen tìm chỗ để phòng thủ, chàng thấy một hố bom chừng 50 thước trên đường lên núi. Ra lệnh cho toán viên bắn yểm trợ, Allen dìu Cryan di chuyển đến hố bom, rồi phần còn lại theo sau. Allen trải tấm Pa-nô (Panel) mầu cam giữa lòng hố bom đánh dấu vị trí toán biệt-kích cho phi cơ. Paul King lo cứu thương, người biệt kích Nùng đã chết, Cryan trúng đạn vào đùi bể xương, hèn chi anh ta đứng lên không nổi. Sợ phải cưa chân, King chích morphine cho Cryan đủ cho anh chàng này đỡ đau và còn tỉnh táo.&lt;br /&gt;Allen cùng mấy biệt-kích chuẩn bị tuyến phòng thủ xong thì quân Bắc Việt xuất hiện tiến lên đồi. Nhờ vị trí trên cao, toán biệt-kích ném lựu đạn xuống làm địch phải lui lại. King gọi Allen 'Đã có phi cơ FAC lên vùng' và đưa máy cho anh ta liên lạc, King bước ra miệng hố thay cho Allen, một viên AK bắn trúng King ngay đầu, chết ngay tức khắc. Toán Alabama giờ có hai người chết.&lt;br /&gt;Máy bay quan sát điều khiển các phi tuần đánh bom đẩy lui quân Bắc Việt ra xa, hết Phantom F-4, đến lượt Super Sabres F-100, rồi đến A-1 Skyraider. Rồi trực thăng đến, nhưng viên phi công nhát không dám xuống mặc dầu Allen đã trải pa-nô đánh dấu vị trí toán biệt-kích và đưa tay vẫy, sau đó chiếc trực thăng bay về vì hết nhiên liệu, hẹn hôm sau sẽ trở lại. Toán Alabama đành phải đợi sáng hôm sau, đêm đó họ phải chiến đấu suốt đêm, thêm một biệt kích Nùng bị thương nhẹ.&lt;br /&gt;Sáng hôm sau, quân Bắc Việt vẫn tiếp tục bò lên tấn công, rồi một tiếng nổ lớn rung động hố bom. Allen định thần nhìn quanh, toán Alabama chín người lúc xâm nhập giờ đây còn lại mình chàng và một biệt-kích Nùng, số còn lại chết bị thương nằm la liệt trong hố bom. Đêm qua quân Bắc Việt đã đem súng phòng phông 12 ly 7, đại bác 37 ly đến xung quanh khu vực toán biệt-kích, họ biết máy bay Hoa-Kỳ sẽ đến tiếp cứu toán, nên đã chuẩn bị chiến trường.&lt;br /&gt;Một chiếc Phantom bị bắn rớt, các chiếc khác phải lo tiêu diệt các ổ phòng không của địch. Đến chiều trực thăng cấp cứu CH-53 Jolly Green đến bốc toán Alabama. Sườn núi dốc chiếc CH-53 không đáp được thả dây cấp cứu xuống, Allen đặt Cryan lên một dây, dây bên kia cho một biệt-Kích Nùng ngồi vào, chàng nói 'Hẹn gặp ở Phú-Bài'. Chiếc CH-53 từ từ bốc lên, đạn AK bắn theo trúng cả hai, máu nhiễu xuống vào mặt Allen, chiếc trực thăng hoảng bay đi luôn. Q uân địch vẫn bắn theo, nhằm vào lính biệt-kích chứ không phải trực thăng. Hai xác chết buông xuôi tay, vẫn còn dính dây cấp cứu được trực thăng đem đi.&lt;br /&gt;Allen nổi điên, chửi thề um-xùm. nói với FAC là sẽ tìm đường khác. Viên phi công lái FAC rất bình tĩnh 'John, anh định tìm đường nào?'. John Allen lấy thêm đạn từ những biệt kích chết, rồi ra khỏi hố bom chạy xuống núi, quân Bắc Việt không ngờ, không bắn không đuổi theo. Chạy được một quãng, chàng gọi FAC.&lt;br /&gt;- Tôi đã ra khỏi. Trực thăng có chưa?&lt;br /&gt;- Tôi vẫn theo bạn, sẽ có Kingbee đến đón.&lt;br /&gt;- Còn mấy ông bạn của tôi sao?&lt;br /&gt;- Y-tá nói họ OK! Họ OK! (Phi công FAC trấn an Allen)&lt;br /&gt;Cuối cùng chiếc Kingbee do phi công tài ba Việt-Nam thuộc phi-đoàn 219 bốc Allen đưa về căn cứ hành-quân tiền-phương Phú Bài. Nhờ tài bình tĩnh của viên phi công lái FAC, nói dối để trấn an Allen, Cryan và biệt kích Nùng lãnh mỗi người ba mươi viên AK khi được trực thăng CH-53 bốc. Toán biệt-kích SOG Alabama còn mỗi mình Allen sống sót. Người biệt-kích ngồi ghế sau chiếc FAC là Trung Sĩ Nhất John Robertson tử trận khoảng 15 ngày sau khi đi theo Kingbee trong một sứ mạng cách toán Alabama xâm nhập khoảng 10 dặm. Quân Bắc Việt bắn rớt Kingbee bằng hỏa tiễn SA-7.&lt;br /&gt;Ba ngày sau toán Idaho xâm nhập cách đó khoảng 5 dặm. Chiều hôm đó, trưởng toán Glen Lane, toán phó Robert Owen nói vắn tắt cho Covey (FAC) biết họ không báo cáo được vì quân Bắc Việt đã bao vây toán. Đó là lần cuối cùng toán Idaho báo cáo, không ai biết chuyện gì xẩy ra cho toán biệt-kích. Toán Oregon vào tìm toán Idaho, họ tìm được dấu vết lựu đạn nổ, chứng tỏ có chiến đấu và toán Idaho bị địch bắt. Đến phiên toán Oregon bị đơn vị chống biệt-kích tấn công, tất cả mọi người trong toán đều bị thương nhưng thoát hiểm.&lt;br /&gt;Mùa Hè năm 1968, xếp mới đơn vị SOG là Đại-Tá Cavanaugh, Đoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát dồn nỗ lực qua Lào và Miên. Trong nội điạ, chỉ để ý thung lũng A-Shau, cách Đà-Nẵng 40 dặm về hướng nam. Thung lũng A-Shau rộng 25 dặm qua biên giới Lào về hướng tây bắc. Trong vùng này, quân đội Hoa-Kỳ bỏ rơi hai phi đạo ngắn và ba trại LLĐB.&lt;br /&gt;Ngày 3 tháng Tám, toán Idaho mới lập lại do Wilbur Boggs làm trưởng toán xâm nhập vào thung lũng A-Shau cách chỗ toán Idaho cũ biến mất ngày 20 tháng Năm chừng mười dặm. Toán phó là John Walton, anh này rất thông minh, chơi xì-phé giỏi (sau này trở về hưởng gia tài do cha ông để lại những tiệm Wal-Mart), ngoài ra có thêm Tom Cunningham, biệt-kích Thượng.&lt;br /&gt;Xâm nhập không lâu, toán bị tấn công, trưởng toán Boggs bị thương nặng, hai biệt-kích Thượng chết. Toán bị bao vây, không lối thoát. Walton gọi oanh kích ngay trên đầu toán. Nhờ vậy quân Bắc Việt lui ra, Walton lo cấp cứu những biệt kích bị thương, kể cả Cunningham, tất cả đều thoát.&lt;br /&gt;Cùng trong tháng Tám, 3 giờ sáng ngày 23, đặc công cộng sản tấn công bộ chỉ huy Bắc (CCN), trận tấn công kéo dài ba tiếng đồng hồ. Kết quả, 15 sĩ-quan, hạ-sĩ-quan LLĐB/HK chết, con số tổn thất lớn nhất từ trước đến giờ, 16 biệt-kích quân Việt-Nam, Nùng, Thượng chết. Địch bỏ lại 38 xác, 9 bị thương làm tù binh. Trong số xác địch để lại có tên làm trong bếp, nội tuyến của địch gài vào.&lt;br /&gt;Sau vụ Đà-Nẵng, toán biệt kích SOG vẫn tiếp tục xâm nhập qua Lào. Trong mùa Thu, không ai may mắn hơn Trung-Sĩ Lynne Black Jr. Ngày 5 tháng Mười toán của anh ta xâm nhập miền trung Lào, vào vùng đụng ngay, toán trưởng Trung-Sĩ James Stride chết trong loạt đạn đầu. Toán phân tán để chạy, Black cùng với hai biệt kích Thượng chạy ngang qua bộ chỉ huy quân Bắc Việt, chuyện xẩy ra nhanh chóng địch không phản ứng kịp.&lt;br /&gt;Một chiếc CH-53 Jolly Green đến từ Thái Lan, Black cho hai người Thượng, và Mũ-Xanh thất lạc vừa tới lên trước. Nghe tiếng trực thăng, hai lính Bắc Việt chạy ra đụng Black, hai bên giằng co. Không hiểu sao, Black thoát được và được câu lên trực thăng. Đúng lúc đó chiếc trực thăng chao đi vì trúng B-40, viên phi công đáp an toàn xuống một rặng núi khác, rồi một chiếc CH-53 đến bốc tất cả về căn cứ an toàn. Xác trưởng toán Stride không tìm được.&lt;br /&gt;- Kết Luận&lt;br /&gt;Bill Copley không được may như Lynne Black. Vài tuần sau khi Black thoát hiểm, toán biệt kích khác xâm nhập vùng nam Lào, bị rượt. Copley bị thương, anh ta cầu cứu 'Giúp tôi, Tôi bị thương!'. Một toán viên cõng Copley chạy đến khi kiệt sức phải bỏ lại vì địch đuổi theo bén gót. Sau đó toán cấp cứu Bright Light vào tìm, chỉ thấy dấu máu nơi Copley nằm. Tổng kết năm 1968, ngoại trừ vụ đặc công tấn công bộ chỉ huy Bắc. CCN mất 18 Mũ-Xanh tử trận, 18 mất tích.&lt;br /&gt;Ngày 16 tháng Ba năm 2000CCN/FOB Phú-Bài&lt;br /&gt;Posted by NhaKyThuat at 3:29 PM &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-726315170891318663?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/726315170891318663/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/08/hanh-quan-biet-kich-nam-khoi-lua-1968.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/726315170891318663'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/726315170891318663'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/08/hanh-quan-biet-kich-nam-khoi-lua-1968.html' title='HÀNH-QUÂN BIỆT-KÍCH Năm Khói-Lửa 1968'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sn-38coVNMI/AAAAAAAAFp4/7NYqmJ7ecpg/s72-c/danhdutoquochom3dencay222.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-6418995645322763996</id><published>2009-07-09T23:24:00.001-07:00</published><updated>2009-08-13T21:55:55.546-07:00</updated><title type='text'>Chuyện Mật Của Một Đơn Vị Mật: Tuyển Mộ&amp;Huấn Luyện Biệt Kích</title><content type='html'>&lt;a style="color: rgb(0, 51, 0);" onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlbUXYdkL9I/AAAAAAAAExQ/fyXtJsuGl1w/s1600-h/daiuytramthuctapdalat.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 230px; height: 400px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlbUXYdkL9I/AAAAAAAAExQ/fyXtJsuGl1w/s400/daiuytramthuctapdalat.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356702304972320722" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 51, 0);"&gt;LTS: Sau bài lịch sử người nhái của Nha Kỹ Thuật đã được đăng trong số báo ra ngày Thứ Bảy, 17 tháng 4/99, tòa soạn nhận được thêm chi tiết về nhiều “bí mật một thời” của các chiến sĩ Biệt Kích Quân của Nha Kỹ Thuật KT, do cựu Trưởng Công Tác Nguyễn Vinh viết lại. Xin mời độc giả theo dõi những bí mật của một đơn vị tham dự chiến tranh bất quy ước của QLVNCH, từ việc tuyển mộ, huấn luyện, xâm nhập, tiếp tế tới triệt xuất... của những toán biệt kích trên khắp các chiến trường Nam Bắc Việt Miên Lào, như sau.&lt;br /&gt;Nhiệm vụ của NKT thay đổi tùy theo thời gian cũng như tình hình của địch. Trong thời kỳ khởi đầu đến cuối năm 1963, Sở Bắc hay phòng E-45 gởi nhiều toán điệp báo ra Bắc để thu nhập tin tức cũng như để liên lạc với một số nhân vật chống cộng có uy tín còn ở lại miền Bắc với mục đích tạo cơ sở nằm vùng, xây dựng ngầm một lực lượng nổi dậy làm đầu cầu cho đoàn quân Bắc Tiến Giải Phóng Miền Bắc khi tình hình chính trị cho phép.&lt;br /&gt;Sau chính biến 1963, tiếp tục xâm nhập các Toán Biệt Kích qua đường hàng không, và Biệt Hải qua đường biển. Sở Phòng Vệ Duyên Hải (SPVDH) được tăng cường các chiến dịch PTF. Sở Tâm Lý Chiến (STLC) phát triển mạnh mẽ hệ thống phát thanh các công tác Chiến Tranh Chính Trị. Hai sở này hợp tác thả rất nhiều tặng phẩm cho dân chúng miền Bắc. Quà tặng thường là các nhu yếu phẩm, máy thâu thanh để đồng bào có thể nghe tiếng nói của Đài Tự Do, đài Gươm Thiêng Ái Quốc. Các tặng phẩm thường được thả dù từ phi cơ hoặc từ ngoài biển trôi vào. Trong thời gian này một số khá đông người dân miền Bắc được tàu của SPVDH đưa về một đảo bí mật thuộc “Mặt Trận Giải Phóng Miền Bắc” chiếm đóng. Ở đó họ được hướng dẫn đường lối giải phóng của phong trào rồi được giao phó vài nhiệm vụ khi họ trở về địa phương mình.&lt;br /&gt;Ngoài ra STLC cũng dùng đài phát thanh để nhắn tin gia đình cho các Toán đang hoạt động tại miền Bắc. Vì biết chắc phía địch cũng đang theo dõi các buổi nhắn tin này nên Đoàn 68 đã lồng vào việc phát thanh nhắn tin gia đình cho các Toán có thật cũng như các Toán giả tạo, và để tăng thêm ngờ vực cho đối phương. Trung ương đã cho máy bay thả những kiện hàng tiếp tế xuống vùng các toán giả tạo, trong kiện hàng, ngoài vật dụng thường tiếp tế cho các Toán có thật còn có chứng từ giả tạo của gia đình, thân nhân gửi cho từng người trong Toán. Trong nhiệm vụ lừa địch còn có những Toán giả tạo xâm nhập vào những vùng hẻo lánh miền Bắc mà sự thật chỉ là 5,7 chiếc dù được cột vào tảng nước đá, với thời gian nước đá sẽ tan, chỉ còn những chiếc dù lơ lửng trên cây hoặc trên bờ bụi, khiến địch lầm tưởng đã có toán xâm nhập thật và huy động người đi lùng kiếm. Còn nhiều công tác ly gián bằng cách xử dụng các hồi chánh viên cũng như các tù binh chính quy Bắc Việt.&lt;br /&gt;Trong thời kỳ từ 1969 đến 1975, tình hình chiến sự trở nên ác liệt hơn sau khi bộ đội Bắc Việt tấn công miền Nam, các Toán NKT tăng phái nhiều thêm cho Quân Đoàn để thám sát sau hậu tuyến địch, cung cấp những tin xác thật để khai thác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldXs_rz4nI/AAAAAAAAEyY/me1LIFVCWy4/s1600-h/File1141NhaAnToan10NguyenMinhChieu60den63.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldXs_rz4nI/AAAAAAAAEyY/me1LIFVCWy4/s400/File1141NhaAnToan10NguyenMinhChieu60den63.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356846712301544050" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TUYỂN MỘ&lt;br /&gt;Để thi hành hiệu quả những nhiệm vụ khó khăn và cấp thời, việc tuyển mộ nhân viên để thi hành các kế hoạch trên đòi hỏi một sự cân nhắc lựa chọn hết sức tỉ mỉ.&lt;br /&gt;Trước tiên, Toán viên công tác hay nhân viên nằm vùng phải hội đủ điều kiện học vấn, có khả năng về quân sự, hiểu biết về công tác bí mật và nhất là Tóan viên phải là người đã từng sống tại các vùng hoạt động là điều rất may mắn - vì như chúng ta đã biết, ngành tình báo nhân dân trong vùng cộng sản chiếm đóng rất bén nhạy - mọi sơ hở dù nhỏ bé đến đâu đều có thể làm cho Toán bị bại lộ. Do đó, nhân viên hoạt động nằm vùng phải hết sức thận trọng mỗi khi phải tiếp xúc với dân địa phương. Ngoài ra Toán viên phải thông suốt ngôn ngữ, tập tục cũng như màu sắc ăn mặc của người địa phương để bảo Toàn an ninh cho Toán.&lt;br /&gt;Vì những lý do trên, nguồn nhân lực cung cấp cho Toán nằm vùng tại miền Bắc trước tiên là những quân nhân trong quân đội, những người đã sinh sống tại vùng mục tiêu, đã được huấn luyện nhuần nhuyễn đầy đủ về quân sự và sẵn có một tinh thần yêu nước và chống cộng triệt để, tiên khởi là Liên Đội quan sát I.&lt;br /&gt;Nguồn nhân lực thứ hai là những thanh niên miền Bắc, di cư vào Nam sau Hiệp Định Genève, họ đã căm thù cộng sản và hiện sống tại các khu định cư Hố Nai, Canh Lâm, Ngã Ba Ông Tạ v.v...&lt;br /&gt;Nguồn nhân lực thứ ba là các thanh niên thuộc các Bộ Lạc Sắc Tộc chống cộng đã phải di cư sang Lào hay vào Nam đang sống tại Tùng Nghĩa, Đức Trọng hay làng Hòa Bình ở Ban Mê Thuột.&lt;br /&gt;Sau nầy, vào năm 1968, sau Tết Mậu Thân, nhiều Toán Phượng Hoàng và nhiều điệp viên Singleton đã được tung vào nội địa Kampuchia - để theo dõi hoạt động của đối phương. Việc tuyển mộ các Toán viên nầy được chọn lựa trong số Toán viên người Kampuchia thuộc lực lượng Mike Force của Mỹ và những thanh niên đang phục vụ trong đội Thám Sát P.R.4 tại Tây Ninh. Họ được huấn luyện thêm về công tác điệp viên và sau đó với vỏ bọc Việt Kiều buôn bán, tại chợ trời Gò Dầu Hạ hay Phước Tân. Họ được trang bị đầy đủ thẻ tùy thân, thẻ đảng viên Đảng “Sangum” là đảng của Sihanouk đang có thế lực ở Kampuchia.&lt;br /&gt;Với những giấy tờ giả mạo do phía Hoa Kỳ cung cấp, họ di chuyển rất dễ dàng đến các mục tiêu chỉ định, nơi Việt Cộng đang chiếm đóng như Mimot, Kreek, Kratíc Ba Thu và hải cảng Sihanoukville là hải cảng xâm nhập vũ khí từ miền Bắc.&lt;br /&gt;Cũng vào năm 1968, sau Tết Mậu Thân, nhiều cán binh bộ đội miền Bắc ra hồi chánh, Hoa Kỳ và Nha Kỹ Thuật đã phải khai thác đúng lúc lực lượng mới nầy, Đ 68/NKT đã phái người đến Trung Tâm Chiêu Hồi tiếp xúc để tuyển chọn cán binh chiêu hồi, thành lập nhiều toán Đề Thám.&lt;br /&gt;Sau khi được huấn luyện, các cán binh chiêu hồi được trang bị như các binh sĩ trong Bộ Đội Miền Bắc. Họ được nhảy dù hoặc trực thăng vận hoặc xâm nhập vào đất Miên hoặc Lào, từ các đồn biên giới của LLĐB để thám sát hay đột kích vào các căn cứ địa của cộng sản, một số lớn Đề Thám đã hoạt động rất đắc lực, có Toán đã giải cứu tù binh Mỹ và Việt đang bị Việt Cộng giam giữ tại đất Miên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZoL30hq0I/AAAAAAAAEv4/IFchMZEbfgc/s1600-h/thuctapnhaydu.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 271px; height: 400px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZoL30hq0I/AAAAAAAAEv4/IFchMZEbfgc/s400/thuctapnhaydu.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356583359975893826" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HUẤN LUYỆN&lt;br /&gt;Vì nhiệm vụ mà mỗi toán viên sắp đảm nhiệm, nhiệm vụ tối quan trọng, do đó việc huấn luyện cũng phải rất đầy đủ và chu đáo.&lt;br /&gt;Để giảm thiểu thời gian huấn luyện, các toán viên đầu tiên được tuyển chọn trong các đơn vị quân đội. Họ được tập trung về Liên Đội Quan Sát I.&lt;br /&gt;Mọi nhân viên quân đội hay dân sự đều phải trải qua phần căn bản quân sự, học nhảy dù, biết xử dụng địa bàn, bản đồ, vũ khí, vượt sông và mưu sinh thoát hiểm v.v... Mỗi Toán trước ngày xâm nhập phải có đủ:&lt;br /&gt;- 2 nhân viên truyền tin còn gọi là hiệu thính viên&lt;br /&gt;- 2 chuyên viên phá hoại (mìn, chất nổ)&lt;br /&gt;- 1 hoặc 2 chuyên viên vũ khí&lt;br /&gt;- 1 hoặc 2 chuyên viên cứu thương&lt;br /&gt;- 1 hoặc 2 chuyên viên về tâm lý chiến&lt;br /&gt;Trong những năm đầu, các Toán được ăn ở và được huấn luyện tại các nhà an toàn (mỗi Toán một nhà riêng) vì lý do ngăn cách cũng như để bảo mật tối đa cho công tác.&lt;br /&gt;Đầu năm 1963, vì nhu cầu thành lập cấp bách, các Toán xâm nhập miền Bắc, nhà an toàn không có đủ để chứa các Toán mới. Do đó một trung tâm huấn luyện được thành lập tại Long Thành, Biên Hòa và lấy tên là trại Demo hay Trung Tâm Huấn Luyện Phá Hoại. Vài tháng sau, trung tâm này đổi tên là trại Yên Thế. Tất cả mọi Toán đều tập trung về trại này để huấn luyện, vì nơi đây có sân bay, có đầy đủ phương tiện để huấn luyện và thực tập.&lt;br /&gt;Các Huấn Luyện Viên gồm một số sĩ quan trẻ ưu tú được tuyển chọn trong quân trường và được chuyên viên Hoa Kỳ trau dồi thêm phần chuyên môn. Ngoài số HLV Việt Nam, còn có nhiều Huấn Luyện Viên dân sự người Mỹ trong đơn vị tình báo mang tên Combined Studies do Tòa Đại Sứ Mỹ phái đến, cùng một Toán chuyên viên quân sự của LLĐB Hoa Kỳ cũng được tăng phái để hỗ trợ cho việc huấn luyện các biệt kích.&lt;br /&gt;Sau khi được thành lập và bổ sung đầy đủ chuyên viên, các Toán được thực tập xâm nhập đêm vào một vùng rừng núi xa lạ với trang bị đầy đủ, không khác gì khi Toán xâm nhập vào miền Bắc trong tương lai. Trong mỗi lần thực tập đều có Trưởng công tác Việt và Mỹ tham dự để đánh giá khả năng của Toán và rút tỉa kinh nghiệm vùng rừng núi Bun-Enao, Bun-Sa-Pa, Dan Gia, Deep, Khâm Đức là những vùng rừng núi thuận tiện và thích hợp cho việc thực tập này. Cũng trong thời gian thực tập, thường kéo dài một tuần lễ. Mọi công tác Toán sẽ áp dụng tại miền Bắc đều đem ra thực tập như liên lạc tầm xa, lập căn cứ an toàn, chọn bãi và nhận tiếp tế v.v…&lt;br /&gt;Số tới: Biệt Kích Hành Quân&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-6418995645322763996?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/6418995645322763996/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/chuyen-mat-cua-mot-on-vi-mat-tuyen-mo_4238.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/6418995645322763996'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/6418995645322763996'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/chuyen-mat-cua-mot-on-vi-mat-tuyen-mo_4238.html' title='Chuyện Mật Của Một Đơn Vị Mật: Tuyển Mộ&amp;Huấn Luyện Biệt Kích'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlbUXYdkL9I/AAAAAAAAExQ/fyXtJsuGl1w/s72-c/daiuytramthuctapdalat.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-3603662849584557612</id><published>2009-07-09T23:22:00.001-07:00</published><updated>2009-08-13T21:56:43.537-07:00</updated><title type='text'>Chuyện Mật Của Một Đơn Vị Mật: Biệt Kích Hành Quân Ra Bắc</title><content type='html'>&lt;a style="color: rgb(102, 0, 0);" onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlbTNnBj--I/AAAAAAAAExI/fHszhon5ry8/s1600-h/backbirdfrontnose.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 267px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlbTNnBj--I/AAAAAAAAExI/fHszhon5ry8/s400/backbirdfrontnose.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356701037571079138" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(102, 0, 0);"&gt;II. Trước ngày tháng xâm nhập mỗi Toán được tập trung tại “khu cấm” để chờ lệnh hành quân. Được gọi là “khu cấm” vì nơi đây chỉ dành riêng cho toán sắp hành quân, mọi người không phận sự không được vào khu nầy.&lt;br /&gt;Sau khi thu nhập đầy đủ tin tức về thời tiết cũng như về an ninh tại vùng mục tiêu, lệnh hành quân được ban hành.&lt;br /&gt;Toán hành quân được cấp phát đồ trang bị cho cá nhân. Mỗi toán viên thường được cấp phát trang bị như sau:&lt;br /&gt;- 1 Áo vest mang vào người để đựng các đồ trang bị cho cá nhân&lt;br /&gt;- 1 súng tiểu liên Thụy Điển hoặc tiểu liên Sten của Anh hoặc Uzi của Do Thái hoặc tiểu liên Đức có nòng giảm thanh và ba băng đạn.&lt;br /&gt;- 1 súng lục 9 ly của Thụy Điển&lt;br /&gt;- 1 bi đông nước&lt;br /&gt;- 1 túi cứu thương cá nhân&lt;br /&gt;- 1 bộ đồ...&lt;br /&gt;- 1 dao găm&lt;br /&gt;- 1 mũ nồi&lt;br /&gt;- 1 bộ đồ bà ba đen hoặc nâu&lt;br /&gt;- 1 đôi giày nhảy&lt;br /&gt;- 1 dao bỏ túi&lt;br /&gt;- 1 pen place&lt;br /&gt;- 1 kính chiếu để liên lạc với phi cơ hay trực thăng&lt;br /&gt;- 1 đèn pin để di chuyển trong đêm&lt;br /&gt;- 1 máy radio National&lt;br /&gt;- 1 bao thuốc lá Aka và diêm quẹt&lt;br /&gt;- 1 lược chải đầu&lt;br /&gt;- 1 bàn chải đánh răng và thuốc đánh răng&lt;br /&gt;- 1 bản đồ&lt;br /&gt;- 1 địa bàn&lt;br /&gt;- 1 cuốn sổ và bút chì&lt;br /&gt;- 1 gamen&lt;br /&gt;- 1 đồng hồ đeo tay hiệu Rado hoặc Seiko&lt;br /&gt;- 1 chai thuốc trừ muỗi hay vắt&lt;br /&gt;- 1 toile de tent&lt;br /&gt;- 1 mền ngủ&lt;br /&gt;- 1 túi xắc mang trên vai&lt;br /&gt;- 1 panneau để liên lạc với phi cơ&lt;br /&gt;- và 3 ngày lương thực dự trữ cho mỗi cá nhân&lt;br /&gt;Riêng Trưởng Toán còn được cấp phát một 6.35 và hai nhân viên truyền tin còn phải mang theo máy truyền tin RC 1 khá nặng nhảy dù theo người. Đó là trang bị cá nhân.&lt;br /&gt;Trang bị cho toán, nằm trong các kiện hàng thường có:&lt;br /&gt;- 3 tháng lương thực dự trữ cho các Toán&lt;br /&gt;- Máy truyền tin RC 1 (dự trữ)&lt;br /&gt;- 3 tháng đạn dự trữ&lt;br /&gt;- Áo quần, mền dự trữ&lt;br /&gt;- Thùng đồ phá hoại&lt;br /&gt;- Bộ đồ hớt tóc&lt;br /&gt;- Thùng thuốc chữa trị các bệnh thông thường&lt;br /&gt;Sau khi mỗi toán viên đã nhận lãnh và sắp xếp đồ trang bị áo veste và túi xắc mang vai của mình, Toán sẽ tập trung để nhận lệnh hành quân.&lt;br /&gt;Trưởng công tác Mỹ và Việt thuyết trình chi tiết về lệnh hành quân và thường kèm theo không ảnh vùng mục tiêu để Toán biết vùng mới sắp nhảy dù xuống. Sau đó toán Trưởng sẽ thuyết trình lại cho toán viên, cùng lúc Trưởng Công Tác Việt Mỹ có cơ hội nhận xét và bổ khuyết thêm nếu xét ra cần thiết.&lt;br /&gt;Sau khi nghe xong thuyết trình, Toán được đưa vào sân bay Tân Sơn Nhứt hoặc sân bay Long Thành.&lt;br /&gt;Từ Long Thành hay sân bay TSN, Toán sẽ được không vận đưa ra sân bay Đà Nẵng. Tại đây, đợi lúc trời tối, phi cơ cởi bỏ mọi huy hiệu, bay ra biển, và từ biển bay thẳng đến vùng mục tiêu. 10 phút trước giờ bãi nhảy n/v PD0 theo Toán, sẽ báo hiệu- mọi người gắn móc dù mình vào dây cáp và đợi đèn xanh. Toán viên theo thứ tự gấp rút nhào ra cửa phi cơ để xâm nhập vùng địch.&lt;br /&gt;Cũng có nhiều lúc toán xâm nhập miền Bắc sử dụng sân bay UDON hay NAKOR-PHANOM ở Thái Lan. Tuy nhiên mọi công tác xâm nhập miền Bắc bằng trực thăng vận sau nầy đều xử dụng hai sân bay nói trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldXONikPbI/AAAAAAAAEyQ/BMy-Q59NdGc/s1600-h/f_Nkp.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 300px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldXONikPbI/AAAAAAAAEyQ/BMy-Q59NdGc/s400/f_Nkp.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356846183444921778" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trường hợp xâm nhập bằng trực thăng: Việc xâm nhập được thi hành như sau.&lt;br /&gt;Sau khi toán được không vận từ Long Thành hay từ TSN đến UDON hay NAKOR- PHANOM, toán sẽ lên trực thăng loại CH1 (là loại có trữ lượng nhiên liệu lớn có thể bay xa mà không cần tiếp tế nhiên liệu) và được trực thăng vận băng qua không phận Lào để tiến vào vùng mục tiêu trong lãnh thổ Bắc Việt. (Có lúc vì mục tiêu quá xa, trực thăng CH1 phải đáp xuống căn cứ bí mật của tướng Vang-Pao để nhận tiếp tế nhiên liệu).&lt;br /&gt;Hầu hết mọi cuộc xâm nhập bằng trực thăng vào lãnh thổ miền Bắc thường xảy ra lúc xế chiều. Trái lại các toán xâm nhập bằng nhảy dù đêm, chỉ được xâm nhập vào những đêm có trăng và mùa trăng bắt đầu từ ngày 10 đến ngày 20 âm lịch.&lt;br /&gt;Như trên đã trình bày mỗi nhân viên công tác đều được trang bị một radio nhỏ, không những để giải trí khi nhàn rỗi mà nhất là để giúp toán viên dễ dàng tập trung sau khi cánh dù của họ xuống đất. Mọi người đều biết chiếc dù T-10 rất khó điều khiển khi gió lớn, do đó có lúc gió kéo dù rời xa bãi đáp năm bảy trăm thước. Vì lý do trên, Trung Ương phải trang bị một máy beacom, máy này được đặt trong kiện hàng chính, được đẩy ra phi cơ cùng lúc với Toán xâm nhập. Lúc xuống đất mỗi toán viên sẽ mở máy radio của mình và di chuyển tập trung theo tín hiệu của máy beacom đặt ở kiện hàng chính.&lt;br /&gt;Ngoài những phương cách xâm nhập biệt kích bằng đường hàng không, sở Bắc còn cho xâm nhập nhân viên bằng đường biển, hoặc đường bộ, hoặc xâm nhập chính thức vào miền Bắc từ một nước thứ ba. Vì lý do bảo mật và ngăn cách công tác, nên người viết bài này không biết rõ hết chi tiết, xin được miễn trình bày.&lt;br /&gt;TIẾP TẾ&lt;br /&gt;Như trước đây đã trình bày. Mỗi toán khi xâm nhập thường phải đem theo ba tháng lương thực và súng đạn cũng như chất nổ. Tuy nhiên Trung Ương thường phải tiếp tế cho Toán trước thời hạn. Về lựa chọn bãi thả có lúc do Toán thám sát xong và báo cáo về T.W. Cũng có lúc T.W dựa vào phi cơ ảnh hoặc bản đồ chỉ thị cho Toán đến thám sát và báo cáo về T.W.&lt;br /&gt;Điều kiện cần thiết khi chọn bãi thả gồm có:&lt;br /&gt;1. An toàn, xa làng xã, xa các trục lộ&lt;br /&gt;2. Rộng, dài, đất bằng càng tốt&lt;br /&gt;3. Hướng gió thổi nhẹ, nếu chọn thung lũng càng tốt&lt;br /&gt;Sau khi nhận báo cáo tham sát bãi thả của toán, Trung Ương sẽ cho toán biết quyết định của Trung Ương về:&lt;br /&gt;1. Ngày giờ máy bay đến bãi thả&lt;br /&gt;2. Hướng máy bay sẽ đến&lt;br /&gt;3. Toán phải đánh dấu bãi thả như thế nào&lt;br /&gt;(Chữ T năm ngọn đèn Pin, hay pháo hiệu hoặc chữ L v.v...)&lt;br /&gt;4. Số kiện hàng được tiếp tế&lt;br /&gt;Mọi toán khi nhận được tiếp tế hàng không đều biết:&lt;br /&gt;1. Giờ bãi thả là giờ máy bay đến tận nơi bãi thả&lt;br /&gt;2. Luật chỉ cho phép toán đánh dấu hiệu bãi thả trước 5 phút và kéo dài thêm 5 phút sau giờ bãi thả. Phi cơ có đến bãi thả sẽ không thả tiếp tế nếu toán không đánh dấu hay đánh dấu sai. Phi cơ sẽ không được quay lại lần thứ hai trên bãi thả nếu không thấy dấu hiệu của toán vào giờ ấn định.&lt;br /&gt;Việc tiếp tế cho các toán ở miền Bắc cũng chỉ được thi hành vào mùa trăng, tức khởi sự từ 10 đến 20 âm kịch mỗi tháng. Tuy vậy, cũng có vài trường hợp đặc biệt như toán Hector của Đại Uý Luyện năm 1966- vì toán này bị lộ, bị địch bao vây, bị mất máy truyền tin riêng, phóng pháo cơ của TW đã đến giải vây, cùng lúc đã bắn nhiều thùng containers để tiếp tế lương thực và đạn dược. Toán Ares hoạt động tại vùng Quảng Yên (Hải Phòng) thường nhận tiếp tế bằng đường biển, những năm 67,68, hải cảng Hải Phòng bị Hoa Kỳ phong tỏa bằng ngư lôi nên Trung Ương không thể tiếp tế cho Toán bằng đường biển như trước, vì thế toán được tiếp tế bằng đường hàng không theo chỉ thị như sau:&lt;br /&gt;Vào “ngày N giờ G” quy định, Toán sẽ đánh dấu bãi thả bằng ba ngọn khói hình tam giác đều cạnh trên một thửa ruộng khô ở tọa độ ấn định. Đến giờ ấn định, một đoàn phóng pháo cơ sẽ bay lượn bắn phá vùng hải cảng Hải Phòng, cùng lúc một chiếc sẽ bắn xuống bãi thả của Ares hai container lương thực và súng đạn. Trong kiện hàng còn có 10 khâu vàng 24 cara để toán trao đổi mua bán với người địa phương.&lt;br /&gt;TRIỆT XUẤT&lt;br /&gt;Trước năm 1963-1964, mọi toán công tác miền Bắc nếu được triệt xuất, họ chỉ có thể băng qua lãnh thổ Lào và trình diện với cấp Chỉ Huy Trưởng của Tướng Vang-Pao để xin hỗ trợ. Hoặc di chuyển đường bộ về Nam băng qua sông Bến Hải và vùng phi quân sự. Trường hợp sau nầy chỉ thành công khi toán di chuyển từng người một.&lt;br /&gt;Nhưng từ năm 1965 trở đi, việc triệt xuất toán về Nam được thi hành dễ dàng hơn bằng hai cách sau đây.&lt;br /&gt;1. Triệt xuất bằng trực thăng&lt;br /&gt;Đến ngày giờ ấn định đã được báo trước cho Toán. Hai trực thăng xuất phát từ phi trường UDON hoặc NAKOR- PHANOM ở biên giới Thái-Lào. Có lúc bay thẳng tới vùng triệt xuất. Có lúc vì đường bay quá xa, phi cơ trực thăng phải đáp xuống căn cứ bí mật của tướng Vang-Pao để nhận tiếp tế nhiên liệu, xong trực thăng mới bay xâm nhập vào vùng triệt xuất. Sau khi đã liên lạc được với Toán, Trưởng Công Tác báo về cho Trưởng Công Tác Hoa Kỳ và sau đó hai khu trục được bay đến để yểm trợ cho việc triệt xuất. Sau khi khu trục bắn phá và tạo một vùng an ninh vây quanh, Toán được triệt xuất. Một trong hai trực thăng sẽ đáp xuống bãi để triệt xuất Toán.&lt;br /&gt;2. Triệt xuất bằng C 130, còn được gọi là Sky-Hook.&lt;br /&gt;Toán hoặc nhân viên được triệt xuất, trang bị mỗi người một túi xách trong đó có bình hơi và bong bóng khá lớn- Đến giờ quy định đã được báo trước, nhân viên được triệt xuất bấm bình hơi, bong bóng sẽ căng và bay lên trời, dây ny lông có sẵn, nối liền bong bóng và nhân viên được triệt xuất. Phi cơ C.130 được trang bị thêm hai râu trước mũi bay đến và kẹp mạnh vào dây nylon và bắt đầu kéo nhân viên được triệt xuất vào. Phương cách triệt xuất này cũng thường được áp dụng để cứu các phi công bị bắn hạ tại Bắc Việt.&lt;br /&gt;LIÊN LẠC&lt;br /&gt;Các Toán họat động tại miền Bắc liên lạc về TW bằng máy RC1, một loại máy có tầm họat động rất xa, tuy nhiên rất cồng kềnh và khá nặng.&lt;br /&gt;Để bảo đảm an ninh cho việc liên lạc, mỗi Toán đều có đặc lệnh truyền tin riêng rẽ, và mỗi hiệu thính viên của Toán cũng có riêng nhóm an ninh của mình, mà chỉ có phòng truyền tin Trung Ương mới được biết, và sĩ quan Trưởng Công Tác của Toán cũng không có quyền tìm hiểu. Mỗi nhân viên trước khi đi công tác, nhịp đánh “manip” của mỗi hiệu thính viên được ghi băng, đề phòng lúc địch xâm nhập vào hệ thống, nhịp điệu thật hay giả được đối chiếu.&lt;br /&gt;Mọi điện văn sau khi mã hóa chỉ được chuyển về TW qua nhiều tầng số. Không khi nào quá 5 phút ở một tầng số. Các điện văn gửi về TW không khi nào được gửi trực tiếp mà phải qua đài “BUZZ” ở Phi Luật Tân và sau đó đài BUZZ mới chuyển về TW tại Sài Gòn.&lt;br /&gt;- Các Toán Hồi Chánh còn gọi là Toán Đề Thám được thành lập năm 1968, cũng như các Toán Phượng Hoàng người Miên đều được trang bị máy truyền tin nhỏ hơn để dễ di chuyển, nhưng khả năng liên lạc tầm xa luôn luôn được bảo đảm. Nếu bị trở ngại liên lạc với phi cơ bằng pháo hiệu Den Flare hoặc bằng Panel hoặc bằng kính chiếu, hoặc bằng đốt khói v.v...&lt;br /&gt;- Các điệp viên hoạt động trên lãnh thổ Kampuchia&lt;br /&gt;Họ liên lạc về TW qua hộp số sống tại chợ Trời Gò Dầu Hạ, nơi người Miên và Việt tụ tập mỗi ngày để buôn bán. Nhân viên làm hộp số sống luôn có mặt tại tiệm buôn của mình được mở ngay trong chợ, để nhận báo cáo mọi lúc cần thiết.&lt;br /&gt;NGUYỄN VINH&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-3603662849584557612?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/3603662849584557612/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/chuyen-mat-cua-mot-on-vi-mat-tuyen-mo_09.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/3603662849584557612'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/3603662849584557612'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/chuyen-mat-cua-mot-on-vi-mat-tuyen-mo_09.html' title='Chuyện Mật Của Một Đơn Vị Mật: Biệt Kích Hành Quân Ra Bắc'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlbTNnBj--I/AAAAAAAAExI/fHszhon5ry8/s72-c/backbirdfrontnose.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-8897500103011949846</id><published>2009-07-09T22:43:00.000-07:00</published><updated>2009-07-10T07:46:29.098-07:00</updated><title type='text'>Các chiến đoàn Sở Liên lạc (SLL) thuộc Nha Kỹ thuật QL.VNCH tại mặt trận Cao nguyên đầu năm 1971</title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldUPkpQ0lI/AAAAAAAAEyI/DcGUdIUVo7w/s1600-h/SCUPATCHLoihopatch.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 281px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldUPkpQ0lI/AAAAAAAAEyI/DcGUdIUVo7w/s400/SCUPATCHLoihopatch.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356842908292010578" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlbVbTG7bDI/AAAAAAAAExY/kuJp9tUjb8Q/s1600-h/RTWyoming.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 259px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlbVbTG7bDI/AAAAAAAAExY/kuJp9tUjb8Q/s400/RTWyoming.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356703471766301746" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Trong loạt bài viết về các đơn vị đặc nhiệm, VB đã lược trình hoạt động của các biệt đội đặc nhiệm thuộc Nha Kỹ thuật-cơ quan tình báo chiến lược của QL.VNCH trong thời gian từ 1970-1974. Theo tổ chức, Sở Liên lạc/ Nha Kỹ thuật gồm có 3 chiến đoàn được phối trí như sau: Chiến đoàn 1 đóng tại Đà Nẵng, Chiến đoàn 2 đóng tại Kontum, Chiến đoàn 3 đóng tại Ban Mê Thuột. Các toán, các đại đội của mỗi chiến đoàn được huấn luyện để thực hiện các cuộc hành quân xâm nhập bằng không vận hoặc bằng đường bộ vào các cứ địa, mật khu của CSBV từ phía Nam vĩ tuyến 17 trở vào.&lt;br /&gt;Tại chiến trường Tây Nguyên, trong năm 1971, tại Quân đoàn 2/Quân khu 2 (từ tháng 8/1970, các Vùng chiến thuật được cải danh thành Quân khu), vị tư lệnh lúc bấy giờ trung tướng Ngô Du đã liên lục cho mở các cuộc hành quân quy mô tấn công vào các mật khu của CSVN, giải tỏa áp lực địch ở biên giới. Cũng cần nói thêm rằng trước năm 1971, từ tháng 8/1970 đến tháng 12/1970, các đơn vị Dân sự chiến đấu tại 12 căn cứ biên phòng (Polei Kleng, Plei Mrong, Tieu Atar, Trang Phuc, Plei Djereng, Đức Cơ, Pleime, Bu Prang, Dak Pek, Dak Seang, Ben Het, Đức Lập đã được cải tuyển sang binh chủng Biệt động quân để thành lập các tiểu đoàn Biệt động quân Biên phòng: 62, 63, 71, 72, 80, 81, 82, 88, 89, 90, 95, 96, tất cả các đơn vị này trực thuộc quyền chỉ huy của bộ Chỉ huy Biệt động quân Quân khu 2.&lt;br /&gt;Trong phạm vi và trách nhiệm của hai chiến đoàn của Sở Liên Lạc, từ tháng 1/1971, các đơn vị của Chiến đoàn 2 và Chiến đoàn 3 đã liên tục tung các đại đội xung kích xâm nhập vào những khu vực được ghi nhận là có các căn cứ hậu cần của địch. Ngay từ đầu năm 1971, tại vùng hoạt động của chiến đoàn 3, đại đội A được lệnh tấn kích một căn cứ của CQ thuộc khu vực F.701. Sau đây là diễn tiến cuộc hành quân này được ghi lại dựa theo hồi ký của vị sĩ quan đại đội trưởng (không nêu tên) phổ biến trong tạp chí KBC.&lt;br /&gt;* Cuộc tấn kích căn cứ CSBV của 1 đại đội cảm tử quân thuộc Chiến đoàn 3 Xung kích/Sở Liên lạc/Nha Kỹ thuật vào đầu năm 1971&lt;br /&gt;Cuộc hành quân được khởi động vào thời gian mà vị đại đội trưởng (tạm gọi là đại đội trưởng A) vừa thuyên chuyển về chiến đoàn. Mục tiêu là căn cứ tồn trử vũ khí, một bệnh viện lớn chứa hơn 100 binh lính thuộc khu vực F.071 của CSBV. Để chuẩn bị cuộc hành quân này, đại đội trưởng A phải bay không thám nhiều lần trong vùng hành quân. Ngoài việc chọn bãi thả, bãi đáp, còn phải có các yếu tố như cây cỏ, núi đồi, sông ngòi. Thậm chí phải biết hướng nước chảy, lưu lượng, độ dốc, độ sâu...&lt;br /&gt;Khi đã có đủ yếu tố cần thiết, đại đội trưởng A lập sa bàn thuyết trình hành quân. Các trung đội trưởng cũng bay không thám nhiều lần trên các mục tiêu hầu có thể giúp đại đội trưởng khi cần thiết, sau cùng cho đại đội thực tập hành quân trên một địa thế tương đối giống như mục tiêu, đặc biệt là cách lên xuống trực thăng nhanh mà không loạn.&lt;br /&gt;Theo kế hoạch, cứ mỗi toán 6 người, theo thứ tự từng trung đội sẽ được không vận xuống bãi đáp, thế nhưng, do chiến đoàn xung kích chỉ có 9 trực thăng H34 (còn gọi là King Bee) của Không quân VNCH biệt phái, trong khi tổng số đại đội là 144 người, đại đội trưởng A cần đến 24 chiếc để di chuyển quân. Đại đội trưởng A đưa chuyện ra bàn bạc với đại úy Nhơn, trưởng toán King Bee. Đại úy Nhơn cười: Chúng ta có sử dụng hết trực thăng của chiến đoàn cũng không đủ.&lt;br /&gt;Sau cùng, chiến đoàn quyết định sử dụng Chinnok, 4 chiếc chở quân chính thức, 8 chiếc King Bee lượn nghi binh, 4 chiếc H U 1B lượn cấp cứu, 4 HU 1B võ trang, cùng với 4 Cobra yểm trợ. Trừ H34 thuộc 1 phi đoàn của Không quân VNCH, các phi cơ còn lại thuộc một đơn vị của Không lực Hoa Kỳ. Ngoài ra còn có 4 F 5 luôn luôn không thám trên không phận, cộng với 4 oanh tạc cơ VN nằm tại phi trường Pleiku sẵn sàng cất cánh khi đại đội trưởng A yêu cầu.&lt;br /&gt;Đại úy Nhơn thường xuyên cùng đại đội trưởng A bàn thảo về Không quân. Anh chỉ cho đại đội trưởng A biết thời gian hoạt động trên không, vận tốc bom, đạn, khả dụng của từng loại một. Vấn đề này rất cần thiết với đại đội A trong cuộc hành quân này. Để phối hợp với Không quân, đại đội trưởng A phải tính toán làm sao để lúc nào cũng có phi cơ trên đầu đại đội A. Có nghĩa là loại đánh phá bao lâu (tính bằng phút) sẽ rút thì loại khác phải thay thế liền. Cứ như vậy mà thay phiên nhau xa luân chiến theo thời gian và lời yêu cầu của cấp chỉ huy trên trận địa.&lt;br /&gt;8 giờ sáng ngày N, đại đội A sẵn sàng ở phi trường Phụng Dực (gần Ban Mê Thuột). Đáng lẽ đại đội A rời phi trường lúc 9 giờ, nhưng vì thời tiết xấu nên mãi đến 11 giờ đại đội A mới được bốc. Thay vì đưa đại đội A đến căn cứ xuất phát ở trại Tiuata thì đại đội A được đưa thẳng đến mục tiêu. Do thời tiết xấu vã lại các loại trực thăng cần phải bay thấp để tránh sự quan sát cũng như phòng không của địch, còn phải lạng lách để nghi binh.&lt;br /&gt;Khi đại đội trưởng A sắp xếp đội hình xong, lúc đó đã 1 giờ trưa. Đại đội A đã tiến thẳng về hướng Tây, với đội hình tam giác đi trước. Đại đội trưởng đi với trung đội 3. Trung đội 4 trừ bị sẵn sàng nhận lịnh của đại đội trưởng để thi hành bất cứ nhiệm vụ gì lúc cần.&lt;br /&gt;Trên đường tiến quân, các tổ tiền sát báo cho đại đội trưởng biết họ không nhận được bất cứ một dấu vết gì chứng tỏ có địch hoạt động trong khu vực hành quân. Sau đó đại đội trưởng A nhận được báo cáo là “có một bộ xương nai, dấu mới làm thịt không quá ba ngày” và có “một con rắn lục” (đường mòn) đang sử dụng. Anh ra lệnh các toán không ai được vượt qua, phục tại chỗ, chờ đại đội trưởng A. Đại đội trưởng A cho mở cuộc phục kích chớp nhoáng, có cả mìn định hướng, đồng thời ra cho lệnh trung đội 4 chận hậu để đề phòng địch quân đánh úp từ phía sau, với khoảng cách từ 3 đến 500 mét.&lt;br /&gt;Đại đội trưởng lại nhận được báo cáo là cách tổ tiền sát 50 mét có một con trăn lớn (đường xe chạy được) trâu bò (xe lớn) qua lại được, con đường rất mới. Được báo như thế, đại đội trưởng A ra lệnh: Quay về hướng đó. Phục tại chỗ. Tôi sẽ đến. Tránh ngộ nhận.&lt;br /&gt;Đại đội trưởng A quyết định rút bớt 2 trung đội trong cuộc phục kích vừa rồi để phối hợp với trung đội 4 mở thêm một cuộc phục kích khác lớn hơn. Thế là đại đội A có hai cuộc phục kích mà hai tuyến đâu lưng lại với nhau. Bố trí phục kích xong thì đại đội trưởng A nghe có tiếng xe hơi “cà hự cà hự” càng lúc càng gần, mọi người hồi hộp chờ đợi. Tám chiếc xe Zin lần lượt chạy qua mặt đại đội A.&lt;br /&gt;Tiếng nổ lớn, chiếc xe đầu bị hất tung cao khoảng 2 mét rồi lật úp trong làn bụi mịt mù. Trận đánh thật sự bắt đầu. Tiếng súng đủ loại, tiếng mìn nổ, tiếng la hét vang dậy cả một góc trời, bao quanh bởi núi và rừng. Cuối cùng địch quân bỏ chạy về hướng Tây, đại đội trưởng A cho lệnh truy kích bằng 2 trung đội 1 và 2. Trung đội 4 ở lại chận hậu, đồng thời thu dọn chiến trường.&lt;br /&gt;Đơn vị truy kích do đại đội trưởng A chỉ huy, bất ngờ bị chận đứng lại bởi hai khẩu đại liên phòng không của địch bắn xối xả, tiện đứt những cành cây bằng cánh tay và cổ chân, ở cao độ từ 6 đến 10 mét, và cách đại đội trưởng A không quá 100 mét. Sau vài giây nhận định tình hình, đại đội trưởng A biết đây là loại phòng không đặt trên một cái dàn. Bên dưới nòng súng có một cái song ngang cản không cho nòng súng hạ xuống quá thấp (có lẽ không quá 45 độ). Đại đội trưởng A ra lệnh tấn công địch, sau 5 phút cầm cự, 2 ổ súng của CQ bị đại đội A bứng đi bằng các khẩu M 72 chống tăng.&lt;br /&gt;Đại đội trưởng A chưa kịp nhìn thấy 2 khẩu súng này thì trung đội 2 báo cho biết, có khoảng 1 trung đội địch đang tiến vào vùng phục kích. Anh không hiểu tại sao toán địch này lại lọt vào ổ phục kích, chẳng lẽ địch không nghe súng nổ vừa rồi, mặc dù bị ngăn cách bởi núi rừng. Anh cho lệnh tấn công, đồng thời bốn Cobra tham chiến yểm trợ. (Ngay khi chạm địch, đại đội trưởng A đã báo ngay với trưởng toán Cobra nhưng yêu cầu ở ngoài, chỉ yểm trợ khi thật cần thiết. Nhưng với phi công Hoa Kỳ, đề nghị như vậy thì họ không thích, nên cứ cãi nhau). Vô tình đại đội trưởng A coi như bị “lưỡng đầu thọ địch”. Anh báo về Chiến đoàn và xin cho trực thăng lên để câu hai khẩu Đại liên phòng không về vì đại đội A không có khả năng mang nó theo suốt cuộc hành quân được. Tổng kết chiến lợi phẩm thu được: 2 đại liên, 24 vũ khí cá nhân đủ loại, 15 CQ bỏ xác tại trận địa. (Biên soạn dựa theo tài liệu của Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, tạp chí KBC, Đặc san Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù...)&lt;br /&gt;VHA&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-8897500103011949846?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/8897500103011949846/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/cac-chien-oan-so-lien-lac-sll-thuoc-nha.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/8897500103011949846'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/8897500103011949846'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/cac-chien-oan-so-lien-lac-sll-thuoc-nha.html' title='Các chiến đoàn Sở Liên lạc (SLL) thuộc Nha Kỹ thuật QL.VNCH tại mặt trận Cao nguyên đầu năm 1971'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SldUPkpQ0lI/AAAAAAAAEyI/DcGUdIUVo7w/s72-c/SCUPATCHLoihopatch.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-4175956649552829835</id><published>2009-07-09T17:14:00.001-07:00</published><updated>2009-07-18T13:19:02.888-07:00</updated><title type='text'>Nha Kỹ Thuật</title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlN4JZl191I/AAAAAAAAEns/49xyvjofw1Q/s1600-h/DSC01630.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 300px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlN4JZl191I/AAAAAAAAEns/49xyvjofw1Q/s400/DSC01630.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5355756484757419858" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;Orlando, Florida.- Nha Kỹ Thuật là một cơ quan tình báo chiến lược của QLVNCH. Đây không phải là một đơn vị tình báo thuần túy như Quân báo hay Phòng 2/TTM. Danh từ Nha Kỹ Thuật thật ra chỉ là cái tên, cái võ bề ngoài để che dấu nhiệm vụ hoạt động bí mật (underground-activities) không những đối Cộng Sản mà còn đối với các đơn vị bạn. Chính danh của Nha Kỹ Thuật/TTM là “Bộ Tư Lệnh Chiến Tranh Ngoại Lệ” (Unconventional Warfare). Bộ này được giao phó trách nhiệm thi hành những công tác đặc biệt, ngoại lệ hay bất quy ước, hoạt động song song với MACVSOG của Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì “bí mật” nên khó có một ai tự nhận mình hiểu rõ cơ cấu tổ chức này. Theo tài liệu, cơ quan này được chính thức thành lập kể từ đầu năm 1964 và tiếp tục hoạt động cho đến cuối tháng Tư năm 1975. Sự thực thì công tác điệp báo quan trọng tại miền Bắc đã khởi sự thực hiện vào đầu năm 1961. Nhân viên điệp báo hoạt động dưới hình thức cá nhân hay từng nhóm nhỏ và được tổ chức dưới trách nhiệm của Sở Khai Thác Địa Hình/Phòng E để việc phối hợp và yểm trợ được dễ dàng và hữu hiệu hơn. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1964 Phòng E được tách rời khỏi Lực Lượng Đặc Biệt, được tổ chức thành Sở Khai Thác, sau đó sở Khai Thác được cải danh là Sở Kỹ Thuật . Vào năm 1965 Sở Kỹ Thuật được nâng lên thành Nha Kỹ Thuật cho phù hợp với tổ chức và nhiệm vụ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về tổ chức, ngoài Bộ Chỉ Huy, Nha Kỹ Thuật có chín sở, gồm hai Sở Tác Chiến (Sở Liên Lạc và Sở Công Tác) còn các sở còn lại là yểm trợ hay chuyên môn. Ngoài ra Sở Tâm Lý chiến tuy là một cơ cấu tham mưu nhưng được giao phó nhiều kế hoạch tâm lý chiến đặc biệt như điều hành các hệ thống phát thanh mật. Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng tại Long Thành đảm trách việc huấn luyện cho nhân viên công tác. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổ chức và nhiệm vụ của Nha Kỹ Thuật/TTM được thay đổi theo nhu cầu tình báo cũng như tình hình quân sự và chính trị, đặc biệt là đường lối của Hoa Kỳ đối với cuộc chiến tại VN. SOG (Studies Operation Group) thuộc MACV được thành lập để thay thế cho cơ quan tình báo Combined Studies , có nhiệm vụ cố vấn, huấn luyện và yểm trợ cho Nha Kỹ Thuật trong mọi nhu cầu cần thiết để thi hành các cuộc hành quân đặc biệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cơ quan MACV/SOG cũng tổ chức các toán hành quân riêng, do quân nhân thuộc Lực Lượng Đặc Biệt HK chỉ huy công tác vượt biên. Hai cơ quan MACVSOG và Nha Kỹ Thuật đã hợp tác mật thiết tại Bộ Chỉ Huy Nha cũng như tại các đơn vị trực thuộc trong suốt thời gian từ 1964 đến 1972, như chương trình OPLAN 34 (Nhảy Bắc, trước năm 1964) và OPLAN 35 (sau năm 1964). Sau đây là một vài công tác đặc biệt quan trọng của Nha Kỹ Thuật/TTM được MACVSOG yểm trợ và phối hợp hoạt động. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1.Công tác Không Vận Dài Hạn tại Miền Bắc: MACVSOG phối hợp với Nha Kỹ Thuật tiếp tục các hoạt động tình báo xâm nhập miền Bắc. Ngoài nhiệm vụ thu thập và báo cáo tin tức tình báo, các toán sẽ được giao phó công tác phá hoại và đánh phá các mục tiêu quân sự. Nhiều toán đã mất liên lạc ngay sau khi xâm nhập hoặc chỉ liên lạc với TrungƯơng trong một thời gian ngắn. Một số đã bị bắt nhưng vẫn duy trì liên lạc trong một thời gian dưới sự điều động và kiểm soát của CS. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các toán nhỏ đã xâm nhập hoạt động tại miền Bắc trong kế hoạch tình báo đặc biệt dài hạn. Biệt kích miền Nam đã xâm nhập nhiều khu vực quan trọng tại vùng Đông Bắc như Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu… Kế hoạch, đã gây nhiều xáo trộn và lo lắng cho CS Bắc Việt. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2.Công Tác Không Vận Ngắn Hạn tại miền Bắc: Năm 1967 Nha Kỹ Thuật/SOG đặt kế hoạch tổ chức các toán hành quân ngắn hạn. Mục tiêu được ấn định là từ vĩ tuyền 17 đến vĩ tuyến 20, khoảng 120 dậm. Tùy nhiệm vụ, toán có thể 4-8 nhân viên để dễ dàng xâm nhập và triệt xuất. Thời gian hành quân có thể kéo dài từ 15 đến 30 ngày. Nhiệm vụ chính là quan sát và báo cáo mọi tin tức liên quan đến hoạt động của các đơn vị CS. Nhiệm vụ phụ là đặt mìn cá nhân, bắt cóc tù binh để khai thác tin tức và rải tài liệu tâm lý chiến trong vùng hành quân. Phương tiện xâm nhập và triệt xuất là trực thăng CH3 do các phi hành đoàn HK đảm trách. Đa số các phi vụ yểm trợ đặt tại Thái Lan. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.Công tác Vượt Biên - Vào những năm 1964-1965 Bắc Việt ồ ạt đổ quân vào miền Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh, dọc theo hành lang biên giới Lào-Việt và Miên-Việt. Do đó Bộ TTM và MACV quyết định tổ chức những cuộc hành quân vượt biên để quan sát và chỉ điểm mục tiêu giúp các cuộc oanh kích của Không lực HK, đặc biệt B52 được thực hiện chính xác hơn. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Công tác đặc biệt ngắn hạn, công tác này đựơc giao phó với nhiệm vụ tổ chức các cuộc hành quân thám sát và phá rối hậu tuyến địch. Mặc dầu thường xuyên đụng độ địch sau khi xâm nhập, các toán công tác đã thâu lượm và báo cáo nhiều tin tức tình báo có giá trị. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5.Công tác Hải Vận - Sở Phòng Vệ Duyên Hải: Được chính thức thành lập năm 1964, ngoài công tác không vận, cơ quan tình báo HK còn phối hợp và yểm trợ kế hoạch xâm nhập nhân viên điệp báo, hoạt động nằm vùng tại Bắc Việt bằng đường biển. Lúc đầu phương tiện hải vận xâm nhập vào khu vực mục tiêu bằng thuyền máy. Sau đó thuyền máy được thay thế bằng những chiến đỉnh . &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6. Công tác Tâm lý chiến. Sở Tâm Ly chiến là một tổ chức rộng lớn và quan trọng, có trách nhiệm điều động một hệ thống tâm lý chiến và phát thanh mật. Kế hoạch bao gồm nhiều công tác yểm trợ trực tiếp cho phong trào “Gươm Thiêng Ái Quốc”, là một mặt trận “giả tưởng”, xuất phát từ miền Bắc. Đài Gương Thiêng Ái Quốc là một trong nhiều đài thuộc hệ thống phát thanh mật. Đài “Tiếng Nói Tự Do” là một hệ thống phát thanh hướng về Miền Bắc. Hai đài được thiết lập ở Vùng I Chiến Thuật. Đàì phát tuyến ở Thanh Lam, Huế và Cồn Tre ở Quảng Trị, gần vĩ tuyến 17. Hai đài có tầm hoạt động rộng lớn bao gồm toàn lãnh thổ miền Bắc, vượt khỏi vùng biên giới Hoa -Việt. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau Tết Mậu Thân, HK muốn xúc tiến hòa đàm với CS Bằc Việt nên toàn bộ công tác đặc biệt ở miền Bắc phải chấm dứt cuối Tháng 3, 1968, ngay sau khi HK quyềt định ngưng oanh tạc Bắc Việt.. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tinh thần anh dũng cũng như sự hy sinh cao cả của những chiến sĩ Nha Kỹ Thuật thực sự không thể diễn tả được bằng lời nói hay bằng ngòi bút. Họ là những người đã âm thầm hoạt động trong bóng tối, âm thầm bảo vệ đất nước, quê hương VN bằng những việc làm phi thường, ngoài sự hiểu biết của mọi người. Nhân dân Việt Nam không mấy ai biết rõ về công lao đóng góp xương máu của họ, cũng chưa một ai, có một lời nhắc nhở hay vinh danh họ. Họ thực sự là NHỮNG ANH HÙNG VÔ DANH:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“ Họ là những anh hùng không tên tuổi&lt;br /&gt;Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông&lt;br /&gt;Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh&lt;br /&gt;Nhưng can đảm và tận tình giúp nước…” &lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-4175956649552829835?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/4175956649552829835/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/nha-ky-thuat-tuyet-mai_09.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/4175956649552829835'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/4175956649552829835'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/nha-ky-thuat-tuyet-mai_09.html' title='Nha Kỹ Thuật'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlN4JZl191I/AAAAAAAAEns/49xyvjofw1Q/s72-c/DSC01630.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-2799018787778862003</id><published>2009-07-09T15:29:00.001-07:00</published><updated>2009-07-09T15:30:22.437-07:00</updated><title type='text'>HÀNH-QUÂN BIỆT-KÍCH Năm Khói-Lửa 1968 / Chiến Tranh Ngoại Lệ</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZvTt74DOI/AAAAAAAAEwY/ukfefwY9a6Q/s1600-h/100+ft+hover.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 296px; height: 400px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZvTt74DOI/AAAAAAAAEwY/ukfefwY9a6Q/s400/100+ft+hover.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356591191342714082" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;HÀNH-QUÂN BIỆT-KÍCH Năm Khói-Lửa 1968&lt;br /&gt;   - Mở Đầu&lt;br /&gt;       Đầu năm 1968, Khe-Sanh là một trại biên phòng Lực-Lượng Đặc-Biệt. Đơn vị SOG xử dụng trại này làm căn cứ hành-quân tiền-phương.  Nơi đây trở nên tiền đồn bảo vệ phía tây vùng phi-quân-sự.  Trong căn cứ có 6000 quân thuộc trung-đoàn 26 TQLC/HK và tiểu-đoàn 37 Biệt-Động-Quân QL/VNCH. Bên ngoài có sự hiện diện của 20000 quân cộng-sản Bắc-Việt.  Tất cả mọi hỏa lực đều tập trung xung quanh căn cứ, pháo binh, phi cơ, kể cả B-52 yểm trợ ngày đêm.  Sự có mặt, cũng như hành quân vượt biên của đơn vị SOG được bảo mật, không ai biết đến.&lt;br /&gt;   - Phần 2&lt;br /&gt;       Bên trong Khe-Sanh, đơn vị SOG gồm 50 quân nhân LLĐB/HK và khoảng 500 Dân-Sự Chiến Đấu sống dưới hầm cũng như binh-sĩ TQLC/HK chịu đựng 1500 quả đạn đại-bác, súng cối của địch bắn vào căn cứ hàng ngày.  Bên ngoài Khe-Sanh, trên những ngọn đồi, tử thần rình rập, các toán biệt-kích SOG phát xuất từ căn cứ hành quân tiền phương 1 (FOB 1) ở Phú-Bài, xâm nhập tìm mục tiêu cho phi cơ oanh-kích, đặt máy nghe lén điện thoại, và đặt máy dò thám điện tử.&lt;br /&gt;       Nơi hướng tây căn cứ Khe-Sanh bên kia biên giới Lào-Việt, các toán biêt-kích SOG khác phát xuất từ 'cửa hâu' của đơn vị SOG, phi trường Nakhon Phanom (NKP) bên Thái-Lan.  Tại đây, SOG có bẩy nhân viên làm việc với phi-đoàn 21 'Pony' Hành-Quân Đặc-Biệt thuộc Không-Lực Hoa-Kỳ, đơn vị anh-em của SOG phi đoàn 20 Green Hornets.  Từ tháng Giêng 1967, Ponies yểm trợ cho các toán biệt-kích SOG hoạt động ngoài miền Bắc Việt-Nam, các hoạt động của cơ-quan CIA bên Lào và đến cuối năm thả các toán biệt-kích SOG xâm nhập vào đất Lào.  Căn cứ bên Thái-Lan trở nên quan trọng từ đầu năm 1968 khi trực thăng của SOG không hoạt động được trên phi đạo bên trong căn cứ Khe-Sanh.&lt;br /&gt;       Một trong những mục tiêu thường xuyên của SOG bên Lào là rặng núi Cơ-Rốc, cao 1800 bộ về hướng tây Khe-Sanh, quân Bắc Việt, đào hầm hố, đục đá núi làm đường chuyển quân.  Ngày 12 tháng Giêng năm 1968, toán biệt-kích Indiana bị phục kích trên một sườn núi.  Toán chạy lạc, phân tán, toán phó là Trung-Sĩ Jim Cohron cùng hai biệt-kích Nùng tách rời khỏi toán. Phần còn lại chạy đến được một con đường mòn, tìm cách liên lạc với Cohron.  Nhóm này thoát, còn nhóm Cohron mất tích.&lt;br /&gt;       Tình báo Hoa-Kỳ cho rằng, toán Indiana đụng phải trung-đoàn 'Đồng Nai' CSBV.  Hệ thống kiểm thính bắt được tần số của địch cho biết Cohren bị địch bắt và bị hỏi cung.  Cho đến nay, Hà-Nội vẫn trả lời không biết gì về người lính Mũ-Xanh Hoa-Kỳ, quê quán ở tiểu bang Iowa.&lt;br /&gt;       Cách căn cứ Khe Sanh năm dặm về hướng tây, trong bóng của rặng Cơ-Rốc bên kia biên giới là trại LLĐB Lang-Vei do Đại-Úy Frank Willoughby chỉ huy.  Do áp lực của quân đội Bắc Việt vào đầu năm 1968, 282 quân biệt-kích người Thượng được tăng cường thêm một đại đội biệt kích Thượng và quân Mũ-Xanh Lực-Lượng Đặc-Biệt Hoa-Kỳ.&lt;br /&gt;       Phần còn lại của toán Indiana đến trại LLĐB Lang-Vei một buổi tối cuối tháng Giêng sau nhiều ngày bị địch săn đuổi trên ngọn núi Cơ-Rốc.  Trưởng toán Rick Bayer thông báo cho người hạ-sĩ-quan LLĐB của trại Bill Craig rằng: Toán biệt-kích Indiana trông thấy dấu xích xe-tăng của địch!  Thêm điều nữa, trong khi đi ngang qua sông Xe-Kong lúc trời xập tối, toán biệt-kích trông thấy quân Bắc Việt thăm dò mực nước sông và đánh dấu bãi chuẩn bị hành quân vượt sông.  Bayer không hoài nghi chuyện quân đội Bắc Việt sẽ đem xe tăng vào chiến trường miền Nam.&lt;br /&gt;       Khi được đưa vào Saigon để báo cáo, Trung-Sĩ Bayer nhớ lại 'Họ cho tôi là thằng nói dóc!'.  Cấp chỉ huy của anh ta trong FOB 1, Thiếu-Tá Ed Rybat cũng mất mặt không kém. 'Tụi tôi gửi báo cáo về, họ trả lời rằng không có gì hết, đó là dấu xe ủi đất'. T ôi đã phục vụ trong đơn vị Thiết-Giáp trước đây, tôi bìết thế nào là dấu xích xe tăng.  'Đó là dấu thiết vận xa lội nước PT-76 của địch'.  Trong Saigon, trùm đơn vị SOG là Đại-Tá Singlaub tin rằng quân Bắc Việt chuẩn bị xe-tăng để tấn công.  Bộ Chỉ-Huy Quân Viện Hoa-Kỳ MACV bỏ qua lời báo động của ông ta.&lt;br /&gt;       Vừa quá nửa đêm ngày 6 tháng Hai, binh sĩ TQLC nơi giao thông hào phiá tây căn cứ Khe-Sanh nghe tiếng động cơ theo gío đưa tới, nghe như tiếng cưa máy - Xe Tăng!  Trong trại LLĐB Lang-Vei, mặt đất rung chuyển khi mười một chiến xa PT-76 cùng một tiểu đoàn bộ-binh Bắc Việt được pháo binh 152 ly yểm trợ tràn vào trại.  Đại bác 76 ly trên chiến xa bắn xập các pháo đài bên trong.  Hơn nửa Dân Sự Chiến Đấu Thượng chết tại vị trí chiến đấu, sau khi bắn hết đạn súng Carbine, đại liên vào các chiến xa đang tiến tới của địch.  Lính Mũ-Xanh Hoa-Kỳ dùng súng cối 106 ly tiêu diệt hơn nửa số PT-76.&lt;br /&gt;       Trùm đơn vị SOG thông báo về vụ tấn công trại LLĐB Lang-Vei cho cơ-quan MACV, vị tướng trưởng phòng Nhì cơ quan vẫn từ chối không tin.  'Làm gì có xe tăng ở Việt-Nam'.  Trong khi trận đánh nơi Lang-Vei vẫn đang tiếp diễn, đơn vị SOG trong Khe-Sanh chuyển lời cầu cứu của trại LLĐB cần viện binh. Đại-tá David Lownds chỉ huy trưởng căn cứ Khe-Sanh từ chối ' Tôi không muốn hy sinh sinh mạng người Hoa-Kỳ'.  Biệt-kích SOG kể rằng 'Ông ta liếc qua tụi tôi chớp nhoáng như máy quang tuyến, rồi khước từ một cách dã man'.&lt;br /&gt;       'Đúng vậy, chúng tôi có thoả thuận rằng sẽ đi tiếp cứu trại LLĐB Lang-Vei trong trường hợp căn cứ này có thể bị dứt điểm'  Thiếu-Tá Jim Stanton, sĩ quan điều hợp pháo-binh TQLC trong căn cứ Khe-Sanh đã xác định bằng lời nói trên.  'Tình trạng chiến đấu trong căn cứ đã xuống thấp, không ai dám bảo đảm vấn đề an-toàn cho họ'.&lt;br /&gt;   - Phần 3&lt;br /&gt;       Sĩ-quan tùy viên cho tướng Westmoreland đánh thức ông ta dậy hai lần trong đêm cho biết trận tấn công trại LLĐB Lang-Vei.  Đại-Tá Francis Kelly, chỉ huy trưởng Liên-Đoàn 5 LLĐB/HK yêu cầu ông gửi quân tiếp viện cho Lang-Vei, nhưng tướng Westmoreland ngần ngại ra lệnh cho bộ tư-lệnh TQLC/HK.  Cá nhân tướng Westmoreland xem chuyện từ chối không tiếp viện cho trại LLĐB do sự mâu-thuẫn giữa bộ chỉ huy MACV của ông ta và bộ tư-lệnh TQLC/HK.  Ông ra lệnh triệu tập một buổi họp với các vị tướng lãnh TQLC/HK tại Đà-Nẵng sáng hôm sau.&lt;br /&gt;       Trong trại LLĐB Lang-Vei, quân Bắc Việt đã hoàn toàn làm chủ tình hình.  Sĩ quan quân đội Bắc Việt ra lệnh tất cả quân nhân LLĐB/Việt-Mỹ mở cửa hầm chỉ huy và ra đầu hàng.  Sĩ-quan Việt-Nam ra trình diện dường như bị bắn tại chỗ.  Quân Bắc Việt dùng chất nổ phá cửa hầm, sức nổ làm tám quân Mũ-Xanh Hoa-Kỳ bất tỉnh.&lt;br /&gt;       Đến Đà-Nẵng, Tướng Westmoreland ra lệnh cho Trung-Tướng Robert Cushman cung cấp trực thăng đưa một đơn vị cấp cứu SOG trong căn cứ Khe-Sanh vào Lang-Vei ngay tức khắc.  Sau này tướng Westmoreland biết được lệnh của ông ta không được thi hành. Ông ta viết 'Đó là điều xẩy ra trong thời gian tôi phục vụ tại Việt-Nam.  Chuyện đó làm tôi muốn xin về hưu'.&lt;br /&gt;       Tại Khe-sanh, Thiếu Tá George Quamo, Thượng-Sĩ Charles 'Skip' Minnicks có thể nhìn thấy khói bốc lên từ trại LLĐB Lang-Vei. Quamo nói về sự nguy-hiểm đang chờ đợi họ, và hỏi 'Ai muốn đi?'.  Một tá lính Mũ-Xanh Hoa-Kỳ xách tiểu-liên CAR-15, tập họp ba mươi biệt-kích Nùng, Thượng rồi leo lên trực thăng TQLC/HK ra đi.&lt;br /&gt;       Sự thờ-ơ của TQLC ảnh hưởng viên phi công lái trực thăng, không nhiệt tâm đi cứu. Kinh hoàng trông thấy xe tăng cháy, doanh trại đổ nát ở dưới, mất tay phi công CH-46 lái bay vòng vòng trên không.  Cuối cùng Thiếu-tá Quamo ra lệnh 'vào' lúc đó họ mới hạ cánh.&lt;br /&gt;       Xuống tới đất, toán biệt-kích SOG, chia ra lục xoát các hầm hố, công sự phòng thủ tìm người sống sót.  Hàng ngàn quân Bắc Việt trú ẩn xung quanh Lang-Vei sợ không-lực Hoa-Kỳ oanh-kích không tấn công tiếp.  Hầu hết người Hoa-Kỳ sống sót nhờ Trung-Sĩ Nhất Eugene Ashley, chết sáng hôm đó trong những đợt phản công đẩy lui quân cộng sản ra khỏi Lang-Vei.  Anh ta được ân thưởng huy chương Danh-Dự cao qúy nhất của chính phủ Hoa-Kỳ.  Vài lính Mũ-Xanh Hoa-Kỳ thoát nhờ Thiếu-Úy Qúy lái xe Jeep xông vào trại đem họ đi.&lt;br /&gt;       Toán biệt-kích SOG gom tất cả những biệt-kích Hoa-Kỳ sống sót và đem thêm với khả năng của họ những biệt-kích quân Thượng bị thương ra bãi đáp chờ trực thăng bốc.  Khi đoàn tầu bay lên, trưởng toán Alabama John Allen trông thấy một quân nhân Hoa-Kỳ chạy ra bãi đáp vẫy tay.  Không thể quay trở lại, anh ta bị bỏ rơi cho số mệnh.  Người biệt kích Hoa-Kỳ đó tên là Dennis Thompson, bị tù năm năm trước khi được trả tự do.  Trong số hai mươi bốn quân nhân biệt-kích Hoa-Kỳ ở trại LLĐB Lang-Vei, Thiếu-Tá Quamo đem về được mười bốn, trong đó có một bị thương.&lt;br /&gt;       Đơn vị SOG đóng góp trong trận bao vây Khe-Sanh, cũng là thành quả lớn nhất của họ thâu thập bên Lào trong năm 1968, khám phá được căn cứ lớn, bộ chỉ huy, kho chứa đạn dược của địch gần rặng núi Cơ-Rốc.  Phi vụ B-52 Arc Light được lệnh tiêu hủy mục tiêu này kết qủa gây ra nhiều tiếng nổ phụ trong vòng hai tiếng đồng hồ.  Trong nhật ký của tướng Westmoreland, ông ta tin rằng trận đánh bom B-52 trúng bộ chỉ huy đầu não của địch trong trận bao vây Khe-Sanh.  Hệ thống truyền tin của địch bị mất liên lạc trong vòng hai tuần lễ, chứng tỏ có sự bối rối trong hệ thống chỉ huy của địch, do đó quân Bắc Việt không mở trận tấn công lớn vào căn-cứ Khe-Sanh trong kỳ Tết Mậu-Thân.&lt;br /&gt;       Cuối tháng Ba, trong khi sư-đoàn 1 Không-Kỵ Hoa-Kỳ bắt đầu hành quân giải tỏa áp-lực của địch xung quanh căn cứ Khe-Sanh.  Toán biệt-kích Asp xâm nhập khu vực cách Khe-Sanh 25 dặm về hướng tây bắc, theo dõi sự triệt thoái của các đơn vị Bắc Việt.  Trưởng toán Asp là Trung-Sĩ Nhất George Brown, có Trung Sĩ Charles Huston và Alan Boyer. Toán Asp bị một đơn vị lớn của địch tấn công bất thần.&lt;br /&gt;       Một chiếc Kingbee vào cứu Brown và Huston bị hỏa lực địch bắn vào không được.  Một chiếc Kingbee khác trông thấy Alan Boyer, thả thang dây xuống cứu anh ta, đạn bắn đứt thang dây, anh này rơi xuống vào giữa địch quân.  Tất cả đều mất tích.&lt;br /&gt;       Hai trăm lẻ năm TQLC Hoa-Kỳ tử trận trong bẩy mươi bẩy ngày bao vây căn-cứ Khe-Sanh.  Thiếu-Tá Quamo chỉ huy cuộc cứu nguy trại LLĐB Lang-Vei, lên máy bay của đơn-vị SOG bay về Đà-Nẵng. Chiếc máy bay cũng biến mất luôn vì thời tiết xấu.  Xác Thiếu-Tá Quamo tìm được năm 1974.  Vài tuần sau, căn cứ hành quân tiền phương (FOB) ở Khe-Sanh đóng cửa. SOG dời FOB qua trại LLĐB Mai-Lộc đông bắc Khe-Sanh.&lt;br /&gt;       Trong khi trận chiến dịu dần xung quanh căn cứ Khe-Sanh, các toán biệt-kích SOG khác vượt biên qua Cambodia, dò thám xem địch quân đã rút qua đất Miên hay chưa, sau trận Tổng-Công-Kích. Ngày 2 tháng Năm 1968, toán biệt-kích do Trung-Sĩ Nhất Leroy Wright làm trưởng toán xâm nhập vùng Lưỡi Câu.  Trong toán có Trung-Sĩ Lloyd 'Frenchie' Mousseau, Brian O'Connor và chín biệt-kích Nùng.&lt;br /&gt;   - Phần 4&lt;br /&gt;       Buổi sáng lúc toán ra đi từ căn cứ Quản-Lợi, Trung Sĩ Nhất Roy Benavidez bạn của Wright ra tiễn đưa, cảm phục những người ra đi hoạt-động trong lòng địch.  Chẳng bao lâu, khi xuống bãi đáp, toán chạm địch và chạy trở lại bãi đáp.  Địch đuổi theo sát đuôi, bắn không cho toán biệt-kích ngóc đầu dậy và đuổi những chiếc trực thăng cấp cứu ra chỗ khác.  Một trực thăng võ trang bị bắn rớt.&lt;br /&gt;       Địch đem thêm quân đến bao vây toán biệt-kích đang nằm chịu trận dưới hỏa lực súng cối, B-40, AK-47.  Một loạt đạn AK trúng Wright vào đầu, anh ta chết ngay tức khắc. Mousseau và O'Connor bị thương nhiều chỗ.  Tất cả các biệt-kích Nùng đều trúng đạn, nằm la liệt, bị thương hoặc chết. Không chạy được, hết thuốc chữa, toán biệt kích sắp sửa bị địch thanh toán.&lt;br /&gt;       Trong một túp lều dã chiến dựng lên nơi căn cứ hành quân tiền phương Quản-Lợi, Roy Benavidez lắng nghe những chuyện xẩy ra từ máy truyền tin, điện đàm giữa các phi công trực thăng võ trang, và phi công lái máy bay quan sát điều hành không yểm (FAC).  Roy sốt ruột lo cho các chiến hữu của mình, Leroy Wright trúng đạn, Frenchie Mousseau trúng đạn, Brian O'Connor cũng trúng đạn và tất cả biệt-kích Nùng đều trúng đạn chết hoặc bị thương nặng.  Một lữ-đoàn thuộc sư-đoàn 1 Bộ-Binh Hoa-Kỳ đang hành quân gần đó nhưng họ không được phép vượt rào qua Cambodia.  Toán cấp cứu Bright Light cũng không có sẵn.  Mình phải làm gì đây!  Roy đứng ngồi không yên.&lt;br /&gt;       Bị mất nhiều máu, Brian O'Connor yếu đi, anh nghe tiếng trực thăng đến nhưng không di chuyển được.  Chiếc máy bay hạ thấp rồi Roy Benavidez xách túi đựng dụng cụ y-khoa nhẩy xuống chạy thật nhanh vào bụi rậm nơi các biệt kích SOG nằm la liệt. Roy tình nguyện đi cứu toán một mình.  Địch trông thấy trực thăng đáp xuống, bắn ra tới tấp, một viên trúng vào đùi Roy, chàng vẫn tiếp tục chạy, không dám ngừng lại.  Vào đến nơi, Roy liếc thật nhanh, vị trí chiến đấu của toán biệt-kích, Wright đã chết, Mousseau trúng đạn vào đầu, nằm thẳng cẳng nhưng chưa chết,  O'Connor bị thương nhưng vẫn còn bò lết được.  Roy Benavidez băng bó cho bạn, phân phối đạn còn lại từ những biệt kích quân đã chết.  Chàng lãnh thêm một viên AK nữa vào đùi phải trong khi điều khiển trực thăng oanh kích và trực thăng vào đem những người còn sống ra.&lt;br /&gt;       Khi chiếc trực thăng hạ cánh, Roy đưa khẩu AK cho O'Connor, chàng vác theo xác Wright.  Một viên AK khác trúng vào phổi, Roy ngã xuống gần ngất đi.  Chiếc trực thăng trúng đạn súng cối tiêu hủy, viên phi công và người xạ thủ đại liên chết.  Roy lết lại chiếc trực thăng, giúp những người còn sống ra khỏi máy bay trúng đạn trước khi bốc cháy.  Chàng tiếp tục điều khiển phản lực Phantom F-4 oanh kích, và lãnh thêm hai viên AK nữa.  Địch bắn rớt thêm một chiếc gunship.&lt;br /&gt;       Rồi một chiếc Huey khác vào bãi đáp, trên máy bay có y-tá LLĐB Trung-Sĩ Ronald Samsons, anh ta giúp Benavidez kéo, dìu phi hành đoàn chiếc trực thăng trúng đạn, xác biệt kích quân lên máy bay.  Trên đường về Benavidez bất tỉnh vì mất nhiều máu và kiệt sức, Mousseau chết vì vết thương quá nặng nơi đàu.  Wright và Mousseau (chết) được lãnh huy chương Ngoai-Hạng (Distinguish Service Cross).  Benavidez nằm bệnh viện gần một năm chữa bẩy vết thương đạn AK, hai mươi tám miểng B-40, cối 61 ly của địch.  Roy Benavidez cứu tám người, tuy nhiên giấy tờ thất lạc.  Mười ba năm sau, đã về hưu, Thượng-Sĩ Benavidez được máy bay quân đội đưa đi Washington và được tổng thống Reagan gắn huy chương Danh-Dự (Medal of Honor).&lt;br /&gt;       Sau ngày Benavidez cứu toán biệt-kích trong tháng Năm 1968 bên Miên.  Toán Alabama xâm nhập Lào cách thung lũng A-Shau 15 dặm để gắn máy nghe lén điện thoại. Trưởng toán là Trung-Sĩ John Allen, cùng với Kenneth Cryan, Paul King và sáu biệt kích Nùng. T oán Alabama xâm nhập vùng tình nghi có sự hiện diện của một sư-đoàn Bắc Việt, đơn vị này rút qua Lào khi sư-đoàn Đệ Nhất Không-Kỵ Hoa-Kỳ mở cuộc hành quân càn quét khu vực xung quanh thung lũng A-Shau.&lt;br /&gt;       Khi trực thả toán biệt-kích bay gần đến bãi đáp, Allen trông thấy hầm hố, công sự phòng thủ của địch dưới rặng cây.  Không thấy bóng dáng quân Bắc Biệt tại đîa điểm thả toán, Allen ra hiệu 'xuống' và toán biệt-kích bắt đầu làm nhiệm vụ.  Họ di chuyển khoảng một tiếng đồng hồ, giác quan thứ sáu báo động cho Allen biết (Allen đã có kinh nghiệm đi 20 chuyến qua Lào và một chuyến Bright Light ngoài miền Bắc).  Chàng hút-gió báo cho toán phó Ken Cryan biết 'Có điều gì nhìn không bình thường, ngửi cũng khác thường, có chuyện khác thường'.  Allen cùng một biệt kích Nùng tiến tới đằng trước quan sát.&lt;br /&gt;       Hai người lên trước khoảng 250 thước, họ trông thấy khoảng đất rộng đã được dọn dẹp, những nhánh cây cao trên đầu cột lại che dấu khoảng đất trống ở dưới.  Ở giữa có một căn nhà làm bằng tre, rõ ràng là bộ chỉ huy của địch với lính Bắc Việt ra vào.  Xa hơn chút nữa có đường hầm rộng đủ hai người cùng đi đào sâu vào trong núi.  Allen chụp mấy tấm ảnh rồi lùi về chỗ toán Alabama.&lt;br /&gt;       Toán phó Ken Cryan cho biết vài địch quân đi ngang qua, có lẽ toán lùng biệt-kích. Allen quyết định 'cắt đuôi', rồi cả toán nghe tiếng la lối, tiếng xục-xạo trong các bụi rậm trên lộ trình họ vừa di chuyển qua. Toán biệt-kích 'dọt', vài phút sau, biệt-kích hướng đạo (đi-đầu - Point man) dẫn toán băng qua một con đường mòn lớn, có lẽ dẫn tới bộ-chỉ-huy. Âm thanh truy kích của toán lùng biệt-kích chỉ cách phiá sau chừng 50 thước, Allen quyết định tăng tốc độ di chuyển. Họ băng qua một đường mòn nữa rồi nghe tiếng gọi nhau của địch phiá bên phải, và tiếng trả lời phiá sau. Toán biệt kích chạy 'hết tốc lực' lên một ngọn đồi. Súng AK của địch nổ vang dội, một biệt kích đáp lại một tràng CAR-15. Cryan qụy xuống ôm lấy đùi bên phải, Allen chạy lại xốc nách Cryan dìu đi mặc dù Cryan nói hãy chạy đi để chàng ở lại. Một biệt-kích Nùng trúng một viên AK ngay ngực gục xuống đất chết, được đồng đội cõng theo.&lt;br /&gt;   - Phần 5&lt;br /&gt;Trong khi Paul King gọi máy cấp cứu, Allen tìm chỗ để phòng thủ, chàng thấy một hố bom chừng 50 thước trên đường lên núi.  Ra lệnh cho toán viên bắn yểm trợ, Allen dìu Cryan di chuyển đến hố bom, rồi phần còn lại theo sau.  Allen trải tấm Pa-nô (Panel) mầu cam giữa lòng hố bom đánh dấu vị trí toán biệt-kích cho phi cơ.  Paul King lo cứu thương, người biệt kích Nùng đã chết, Cryan trúng đạn vào đùi bể xương, hèn chi anh ta đứng lên không nổi.  Sợ phải cưa chân, King chích morphine cho Cryan đủ cho anh chàng này đỡ đau và còn tỉnh táo.&lt;br /&gt;       Allen cùng mấy biệt-kích chuẩn bị tuyến phòng thủ xong thì quân Bắc Việt xuất hiện tiến lên đồi.  Nhờ vị trí trên cao, toán biệt-kích ném lựu đạn xuống làm địch phải lui lại. King gọi Allen 'Đã có phi cơ FAC lên vùng' và đưa máy cho anh ta liên lạc, King bước ra miệng hố thay cho Allen, một viên AK bắn trúng King ngay đầu, chết ngay tức khắc.  Toán Alabama giờ có hai người chết.&lt;br /&gt;       Máy bay quan sát điều khiển các phi tuần đánh bom đẩy lui quân Bắc Việt ra xa, hết Phantom F-4, đến lượt Super Sabres F-100, rồi đến A-1 Skyraider.  Rồi trực thăng đến, nhưng viên phi công nhát không dám xuống mặc dầu Allen đã trải pa-nô đánh dấu vị trí toán biệt-kích và đưa tay vẫy, sau đó chiếc trực thăng bay về vì hết nhiên liệu, hẹn hôm sau sẽ trở lại.  Toán Alabama đành phải đợi sáng hôm sau, đêm đó họ phải chiến đấu suốt đêm, thêm một biệt kích Nùng bị thương nhẹ.&lt;br /&gt;       Sáng hôm sau, quân Bắc Việt vẫn tiếp tục bò lên tấn công, rồi một tiếng nổ lớn rung động hố bom.  Allen định thần nhìn quanh, toán Alabama chín người lúc xâm nhập giờ đây còn lại mình chàng và một biệt-kích Nùng, số còn lại chết bị thương nằm la liệt trong hố bom.  Đêm qua quân Bắc Việt đã đem súng phòng phông 12 ly 7, đại bác 37 ly đến xung quanh khu vực toán biệt-kích, họ biết máy bay Hoa-Kỳ sẽ đến tiếp cứu toán, nên đã chuẩn bị chiến trường.&lt;br /&gt;       Một chiếc Phantom bị bắn rớt, các chiếc khác phải lo tiêu diệt các ổ phòng không của địch.  Đến chiều trực thăng cấp cứu CH-53 Jolly Green đến bốc toán Alabama. Sườn núi dốc chiếc CH-53 không đáp được thả dây cấp cứu xuống,  Allen đặt Cryan lên một dây, dây bên kia cho một biệt-Kích Nùng ngồi vào, chàng nói 'Hẹn gặp ở Phú-Bài'.  Chiếc CH-53 từ từ bốc lên, đạn AK bắn theo trúng cả hai, máu nhiễu xuống vào mặt Allen, chiếc trực thăng hoảng bay đi luôn. Q uân địch vẫn bắn theo, nhằm vào lính biệt-kích chứ không phải trực thăng.  Hai xác chết buông xuôi tay, vẫn còn dính dây cấp cứu được trực thăng đem đi.&lt;br /&gt;       Allen nổi điên, chửi thề um-xùm. nói với FAC là sẽ tìm đường khác.  Viên phi công lái FAC rất bình tĩnh 'John, anh định tìm đường nào?'.  John Allen lấy thêm đạn từ những biệt kích chết, rồi ra khỏi hố bom chạy xuống núi, quân Bắc Việt không ngờ, không bắn không đuổi theo.  Chạy được một quãng, chàng gọi FAC.&lt;br /&gt;       - Tôi đã ra khỏi.  Trực thăng có chưa?&lt;br /&gt;       - Tôi vẫn theo bạn, sẽ có Kingbee đến đón.&lt;br /&gt;       - Còn mấy ông bạn của tôi sao?&lt;br /&gt;       - Y-tá nói họ OK!  Họ OK!   (Phi công FAC trấn an Allen)&lt;br /&gt;       Cuối cùng chiếc Kingbee do phi công tài ba Việt-Nam thuộc phi-đoàn 219 bốc Allen đưa về căn cứ hành-quân tiền-phương Phú Bài.  Nhờ tài bình tĩnh của viên phi công lái FAC, nói dối để trấn an Allen, Cryan và biệt kích Nùng lãnh mỗi người ba mươi viên AK khi được trực thăng CH-53 bốc.  Toán biệt-kích SOG Alabama còn mỗi mình Allen sống sót. Người biệt-kích ngồi ghế sau chiếc FAC là Trung Sĩ Nhất John Robertson tử trận khoảng 15 ngày sau khi đi theo Kingbee trong một sứ mạng cách toán Alabama xâm nhập khoảng 10 dặm.  Quân Bắc Việt bắn rớt Kingbee bằng hỏa tiễn SA-7.&lt;br /&gt;       Ba ngày sau toán Idaho xâm nhập cách đó khoảng 5 dặm.  Chiều hôm đó, trưởng toán Glen Lane, toán phó Robert Owen nói vắn tắt cho Covey (FAC) biết họ không báo cáo được vì quân Bắc Việt đã bao vây toán.  Đó là lần cuối cùng toán Idaho báo cáo, không ai biết chuyện gì xẩy ra cho toán biệt-kích.  Toán Oregon vào tìm toán Idaho, họ tìm được dấu vết lựu đạn nổ, chứng tỏ có chiến đấu và toán Idaho bị địch bắt. Đến phiên toán Oregon bị đơn vị chống biệt-kích tấn công, tất cả mọi người trong toán đều bị thương nhưng thoát hiểm.&lt;br /&gt;       Mùa Hè năm 1968, xếp mới đơn vị SOG là Đại-Tá Cavanaugh, Đoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát dồn nỗ lực qua Lào và Miên.  Trong nội điạ, chỉ để ý thung lũng A-Shau, cách Đà-Nẵng 40 dặm về hướng nam. Thung lũng A-Shau rộng 25 dặm qua biên giới Lào về hướng tây bắc.  Trong vùng này, quân đội Hoa-Kỳ bỏ rơi hai phi đạo ngắn và ba trại LLĐB.&lt;br /&gt;       Ngày 3 tháng Tám, toán Idaho mới lập lại do Wilbur Boggs làm trưởng toán xâm nhập vào thung lũng A-Shau cách chỗ toán Idaho cũ biến mất ngày 20 tháng Năm chừng mười dặm.  Toán phó là John Walton, anh này rất thông minh, chơi xì-phé giỏi (sau này trở về hưởng gia tài do cha ông để lại những tiệm Wal-Mart), ngoài ra có thêm Tom Cunningham, biệt-kích Thượng.&lt;br /&gt;       Xâm nhập không lâu, toán bị tấn công, trưởng toán Boggs bị thương nặng, hai biệt-kích Thượng chết.  Toán bị bao vây, không lối thoát.  Walton gọi oanh kích ngay trên đầu toán.  Nhờ vậy quân Bắc Việt lui ra, Walton lo cấp cứu những biệt kích bị thương, kể cả Cunningham, tất cả đều thoát.&lt;br /&gt;       Cùng trong tháng Tám, 3 giờ sáng ngày 23, đặc công cộng sản tấn công bộ chỉ huy Bắc (CCN), trận tấn công kéo dài ba tiếng đồng hồ.  Kết quả, 15 sĩ-quan, hạ-sĩ-quan LLĐB/HK chết, con số tổn thất lớn nhất từ trước đến giờ, 16 biệt-kích quân Việt-Nam, Nùng, Thượng chết. Địch bỏ lại 38 xác, 9 bị thương làm tù binh.  Trong số xác địch để lại có tên làm trong bếp, nội tuyến của địch gài vào.&lt;br /&gt;       Sau vụ Đà-Nẵng, toán biệt kích SOG vẫn tiếp tục xâm nhập qua Lào. Trong mùa Thu, không ai may mắn hơn Trung-Sĩ Lynne Black Jr.  Ngày 5 tháng Mười toán của anh ta xâm nhập miền trung Lào, vào vùng đụng ngay, toán trưởng Trung-Sĩ James Stride chết trong loạt đạn đầu.  Toán phân tán để chạy, Black cùng với hai biệt kích Thượng chạy ngang qua bộ chỉ huy quân Bắc Việt, chuyện xẩy ra nhanh chóng địch không phản ứng kịp.&lt;br /&gt;       Một chiếc CH-53 Jolly Green đến từ Thái Lan, Black cho hai người Thượng, và Mũ-Xanh thất lạc vừa tới lên trước.  Nghe tiếng trực thăng, hai lính Bắc Việt chạy ra đụng Black, hai bên giằng co.  Không hiểu sao, Black thoát được và được câu lên trực thăng.  Đúng lúc đó chiếc trực thăng chao đi vì trúng B-40, viên phi công đáp an toàn xuống một rặng núi khác, rồi một chiếc CH-53 đến bốc tất cả về căn cứ an toàn.  Xác trưởng toán Stride không tìm được.&lt;br /&gt;   - Kết Luận&lt;br /&gt;       Bill Copley không được may như Lynne Black.  Vài tuần sau khi Black thoát hiểm, toán biệt kích khác xâm nhập vùng nam Lào, bị rượt.  Copley bị thương, anh ta cầu cứu 'Giúp tôi, Tôi bị thương!'.  Một toán viên cõng Copley chạy đến khi kiệt sức phải bỏ lại vì địch đuổi theo bén gót.  Sau đó toán cấp cứu Bright Light vào tìm, chỉ thấy dấu máu nơi Copley nằm.  Tổng kết năm 1968, ngoại trừ vụ đặc công tấn công bộ chỉ huy Bắc. CCN mất 18 Mũ-Xanh tử trận, 18 mất tích.&lt;br /&gt;Ngày 16 tháng Ba năm 2000CCN/FOB Phú-Bài &lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-2799018787778862003?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/2799018787778862003/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/hanh-quan-biet-kich-nam-khoi-lua-1968.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/2799018787778862003'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/2799018787778862003'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/hanh-quan-biet-kich-nam-khoi-lua-1968.html' title='HÀNH-QUÂN BIỆT-KÍCH Năm Khói-Lửa 1968 / Chiến Tranh Ngoại Lệ'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZvTt74DOI/AAAAAAAAEwY/ukfefwY9a6Q/s72-c/100+ft+hover.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-5933007024626535454</id><published>2009-07-09T15:19:00.001-07:00</published><updated>2009-07-09T15:25:50.222-07:00</updated><title type='text'>Lịch Sử Nha Kỹ Thuật / History by Ken Conboy</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZuVcWj4tI/AAAAAAAAEwQ/xMWPV5tQrBE/s1600-h/KenConboypicteam.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 270px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZuVcWj4tI/AAAAAAAAEwQ/xMWPV5tQrBE/s400/KenConboypicteam.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356590121470911186" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;NHA KY THUAT&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;THE STRATEGIC TECHNICAL DIRECTORATE&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;AND&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;REPUBLIC OF VIETNAM SPECIAL OPERATION FORCES&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In early 1956 the French built Commando School at Nha Trang was re-established with US military assistance to provide physical training and ranger instruction for up to 100 students. Early the following year President Ngo Dinh Diem ordered the creation of a special unit to conduct clandestine external operations. Initial parachute and communication training for 70 officers and sergeants was conducted at Vung Tau; 58 of these later underwent a four month commando course at Nha Trang under the auspices of a US Army Special Forces Mobile Training Team. Upon completion, they formed the Lien Doi Quang Sat so 1 (I Observation Unit) on I November 1957 at Nha Trang. The unit was put under the Presidential Liaison Office, a special intelligence bureau controlled by President Diem and outside the normal ARVN command structure. The commander was Lt. Col. Le Quang Tung, an ARVN airborne officer and Diem loyalist. Many of the Unit's members came originally from northern Vietnam, reflecting its external operations orientation.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In 1958 the Unit was renamed the Lien Doan Quang Sat so 1, or I Observation Group, reflecting its increase to nearly 400 men in December. By that time the Group was seen as an anti Communist stay behind force in the event of a North Vietnamese conventional invasion; however, because of its privileged position the Group stayed close to Diem and rarely ventured into the field.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;By 1960 it was apparent that the main threat to South Vietnam was growing Viet Cong insurgency; the Group abandoned its stay behind role and was assigned missions in VC infested areas. Operations were briefly launched against VC in the Mekong Delta, and later along the Lao border.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In mid 1961 the Group had 340 men in 20 teams of 15, with plan for expansion to 805 men. In October the Group began operations into Laos to reconnoiter North Vietnamese Army logistical corridors into South Vietnam. In November the Group was renamed Lien Doan 77, or 77 Group, in honor of its USSF counterparts. Over the next two years members were regularly inserted into Laos and North Vietnam on harassment and psychological warfare operations. Longer duration agent missions, involving civilians dropped into North Vietnam, also came under the Group's auspices.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The Group's sister unit, 31 Group, began forming in February 1963. Following criticism of 77 Group's perceived role as Diem's 'palace guard', both groups were incorporated into a new command,, the Luc Luong Dac Biet (LLDB) or Special Forces, on 15 March 1963. In theory the LLDB would work closely with the USSF in raising irregular village defense units. This cosmetic change still kept the Special Forces outside of ARVN control, however, and did little to change the performance of Col. Tung's troops. In August, LLDB members attacked Buddhist pagodas across South Vietnam in an effort to stiffle Buddhist opposition to the Diem regime. At the time LLDB strength stood at seven companies, plus an additional three 'civilian' companies used by Diem on political operations. Because of such missions the LLDB became despised and, when anti Diem military units staged a coup d'etat in November, the 'revolutionary' forces arrested Col. Tung and quickly neutralized the LLDB. (Tung was later executed.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The LLDB after President Ngo Dinh Diem&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In the wake of the coup the Presidential Liaison Office was dissolved and its function assumed by the ARVN. The LLDB was put under the control of the Joint General Staff and given the mission of raising paramilitary border and village defense forces with the USSF. External operations were given to the newly formed Liaison Service, also under the JGS. The Liaison Service, commanded by a Colonel, was headquartered in Saigon adjacent to the JGS. It was divided into Task Force 1, 2 and 3, each initially composed of only a small cadre of commandos.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In 1964 the JGS also formed the Technical Service (So Ky Thuat), a covert unit tasked with longer duration agent operations into North Vietnam. Commanded by a Lieutenant Colonel, the Technical Service comprised Group 11 (Doan 11), oriented toward agent operations in Laos and eastern North Vietnam; Group 68 (Doan 68 Thang Long), another infiltration unit; and the Coastal Security Service, a maritime commando group at Da Nang attached to the Technical service with its own contingent of PT boats for seaborne infiltration.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The post Diem LLDB was restructured for its proper role as a source of counter insurgency instructors for paramilitary forces. By February 1964, 31 Group had finished training and was posted to Camp Lam Son south of Nha Trang. In May the Group became responsible for all LLDB detachments in I and 11 Corps. A second reorganization occured in September when 31 Group was renamed III Group and given responsibility for the Special Operations Training Center at Camp Lam Son. Now 77 Group, headquartered at Camp Hung Vuong in Saigon, became 301 Group. In addition, 91 Airborne Ranger Battalion, a three company fast reaction para unit, was raised under LLDB auspices in November. Total LLDB force strength stood at 333 officers, 1270 non commissioned officers and 1270 men. The LLDB command at Nha Trang was assumed by Brig. Gen. Doan Van Quang in August 1965.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;By 1965 the LLDB had become almost a mirror image of the USSF. LLDB Headquarters at Nha Trang ran the nearby Special Forces Training Center at Camp Dong Ba Thin. LLDB 'C' Teams, designated A through D Company, were posted to each of South Vietnam's four Military Regions; each 'C' Team had three 'B' Teams, which controlled operational detachments at the sub regional level; 'B' Teams ran 10 to 11 'A' Teams. 'A' Teams were colocated with USSF 'A' Teams at camps concentrated along the South Vietnamese border, where they focused on training Civilian Irregular Defense Force (CIDG) personnel.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In addition, the LLDB Command directly controlled the Delta Operations Center with its Delta teams and the four company 91 Airborne Ranger Battalion, both were used by Project Delta, a special reconnaissance unit of the US Military Assistance Vietnam Studies and Observation Group (MACVSOG), which operated deep in VC/NVA sanctuaries.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;On 30 January 1968 the Communists launched their TET general offensive across South Vietnam. Caught celebrating the lunar New Year, the Saigon government was initially ill prepared to counter the VC/NVA attacks. When Nha Trang was hit on the first day the LLDB Headquarters was protected by 91 Airborne Ranger Battalion, recently returned from one of its Project Delta assignments. At only 60 percent strength the Airborne Rangers turned in an excellent performance, pushing the major Communist elements out of Nha Trang in less than a day. The battle, however, cost the life of the battalion commander and wounded the four company commanders.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;After a four month retraining in Nha Trang three companies from 91 Airborne Ranger Battalion were brought together with six Delta teams and renamed 81 Airborne Ranger Battalion. In early June the new battalion prepared for urban operations in Saigon after a second surge of Communist attacks pushed goverrunent forces out of the capital's northern suburbs. On 7 June the Airborne Rangers were shuttled into Saigon and began advancing toward VC held sectors around the Duc Tin Military School. After a week of bloody street fighting, much of it at night, the Airborne Rangers pushed the enemy out of the city.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Following the Tet Offensive 81 Airborne Ranger Battalion was increased to six companies, and continued to be used as the main reaction force for Project Delta; four companies were normally assigned Delta missions while two remained in reserve at LLDB Headquarters.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The Strategic Technical Directorate&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In late 1968 the Technical Service was expanded into the Nha Ky thuat (Strategic Technical Directorate, or STD) in a move designed to make it more like MACVSOG, the US joint services command created in 1964 which ran reconnaissance, raids and other special operations both inside and outside South Vietnam. Despite internal opposition the Liaison Service was subordinated to the STD as its major combat arm. Like SOG, the STD also had aircraft under its nominal control, including 219 Helicopter Squadron of the Vietnamese Air Force. By the late 1960s the size of the Liaison Service had increased tremendously. Task Forces 1, 2 and 3, commanded by lieutenant colonels and larger than a brigade, were directly analogous to MACVSOG's Command and Control North, Central and South. Each Task Force was broken into a Headquarters, a Security Company, a Reconnaissance Company of ten teams, and two Mobile Launch Sites with contingents of South Vietnamese Army and paramilitary forces under temporary Liaison Service control. Although the Liaison Service was a South Vietnamese unit, all of its operations were funded, planned and controlled by MACVSOG, and recon teams integrated both MACVSOG and Liaison Service personnel.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In December 1970, in accordance with the 'Vietnamization' policy, all CIDG border camps were turned over to the South Vietnamese government and CIDG units were incorporated into the ARVN as Biet Dong Quan, or Ranger, border battalions. No longer needed as a CIDG training force, the LLDB was dissolved in the same month. Officers above captain were sent to the Biet Dong Quan; the best of the remaining officers and men were selected for a new STD unit, the Special Mission Service. At the same time 81 Airborne Ranger Battalion was expanded into 81 Airborne Ranger Group consisting of one Headquarters Company, one Recon Company and seven Exploitation Companies. The Group was put under the direct control of the JGS as a general reserve force.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;During 1970 the Liaison Service had staged numerous cross border missions into Cambodia in support of major external sweeps by the US and South Vietnamese forces against Communist sanctuaries. Early the following year the Service sent three recon teams into the 'Laotian Panhandle' two weeks before the ARVN's February Lam Son 719 incursion.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In February 1971 the STD underwent major reorganization in accordance with Vietnamization and its anticipated increase in special operations responsibilities. Headquartered in Saigon, STD command was given to Col. Doan Van Nu, an ARVN airborne officer and former military attache to Taiwan. As STD commander, and a non voting member of the South Vietnamese National Security Council, Nu took orders only from President Nguyen Van Thieu and the Chief of the Armed Forces of the Republic of Vietnam JGS.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The expanded STD consisted of a headquarters, a training center, three support services and six combat services. The training center was located at Camp Yen The in Long Thanh: Yen The, significantly, was the name of a resistance movement in northern Vietnam during the 11th century. Airborne instruction was conducted at the ARVN Airborne Division's Camp Ap Don at Tan Son Nhut. The three support services were Administration &amp; Logistics; Operations &amp; Intelligence; and Psychological Warfare, which ran the 'Vietnam Motherland', 'Voice of Liberty', and 'Patriotic Front of the Sacred Sword' clandestine radio stations. The combat services were the Liaison Service (Loi Ho), the Special Mission Service (Hac Long), Group 11, Group 68, The Air Support Service and the Coastal Security Service.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The Liaison Service (So lien Lac), commanded by a colonel in Saigon, was composed of experienced Loi Ho recon commandos divided among Task Force I (Da Nang), Task Force 2 (Kontum) and Task Force 3 (Ban Me thuot).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The Special Mission Service (So Cong Tac), also commanded by a colonel, was headquartered at Camp Son Tra in Da Nang. It remained in training under US auspices from February 1971 until January 1972. Unlike the shorter duration raid and recon missions performed by the Liaison Service, the SMS was tasked with longer missions into North Vietnam and Laos. It was initially composed of Groups 71, 72 and 75, with the first two headquartered at separate camps at Da Nang. Group 75 was headquartered at Plei Ku in the former LLDB B Co. barracks, with one detachment at Kom Tum to provide a strike force for operations in Cambodia and inside South Vietnam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Group 11, an airborne infiltration unit based at Da Nang, and Group 68, headquartered in Saigon with detachments at Kom Tum, was soon integrated under SMS command. Group 68 ran airborne trained rallier and agent units, including 'Earth Angels' (NVA ralliers) and 'Pike Hill' teams (Cambodian disguised as Khmer Communists). A typical Earth Angel operation took place on 15 December 1971, when a team was inserted by US aircraft on a reconnaissance mission into Mondolkiri Province, Cambodia. Pike Hill operations were focused in the same region, including a seven man POW recovery team dropped into Ba Kev, Cambodia, on 12 February 1971. Pike Hill operations even extended into Laos, e.g. the four man Pike Hill team parachuted onto the edge of the Bolovens Plateau on 28 December 1971, where it reported on enemy logistics traffic for almost two months. Pike Hill operations peaked in November 1972 when two teams were inserted by C-130 Blackbird aircraft flying at 250 feet north of Kompong Trach, Cambodia. Information from one of these teams resulted in 48 B-52 strikes within one day.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The STD's Air Support Service consisted of 219 'King Bee' Helicopter Squadron, the 114 Observation Sqn., and C-47 transportation elements. The King Bees, originally outfitted with aging H34s, were re-equipped with UH-1 Hueys in 1972. The C-47 fleet was augmented by two C-123 transports and one C-130 Blackbird in the same year. All were based at Nha Trang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The Easter Offensive 1972&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;During the 1972 Easter Offensive the combat arms of the STD saw heavy action while performing recon and forward air guide operations. Meanwhile, 81 Airborne Ranger Group was tasked with reinforcing besieged An Loc. The Group was heli lifted into the southern edge of the city in April, and the Airborne Rangers walked north to form the first line of defense against the North Vietnamese. After a month of brutal fighting and heavy losses, the siege was lifted. A monument was later built by the people of An Loc in appreciation of the Group's sacrifices.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In October 1972, the SMS was given responsibility for the tactical footage between Hue and the Lao border. In early 1973 US advisors were withdrawn. The Air Support Service soon proved unable to make up for missing US logistical support, sharply reducing the number of STD external missions. STD personnel, as well as Lien Doan Nguoi Nhai SEALS, were increasingly pulled into President Thieu's Office for special assignments. Later in the year the Liaison Service's Task Force 1, 2 and 3 were redesignated Groups 1, 2 and 3; and Camp Yen The was renamed Camp Quyet Thang ('Must Win'.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Following a brief respite in the wake of the 1973 Paris Peace Accords, the STD was back in action against encroaching NVA elements in the countryside. In September 1973 two Liaison Service Loi Ho recon teams were inserted by helicopter into Plei Djereng, a key garrison blocking the NVA infiltration corridor down the Western highlands. They were unsuccessful in rallying the defenders after an NVA attack, however. In late 1974 the NVA increased their pressure; especially hard hit was the provincial capital of Phuoc Long in Military Region 3. After several weeks of NVA tank, artillery and infantry attacks the Phuoc Long defense started to crack. In an effort to save the city the government ordered 81 Airborne Ranger Group to reinforce the southern perimeter. After two days of weather delays one company was heli lifted east of the city on the morning of 5 January 1975; and by early afternoon over 250 Airborne Rangers were in Phuoc Long. After a day of relentless NVA assaults most of the original garrison fled; contact was lost with the Airborne Rangers as the NVA began to overwhelm the city. Early the next day Aiborne Rangers stragglers were spotted north of the city. A four day search eventually retrieved some 50 percent survivors.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;By March 1975 the NVA had increased pressure on the Central Highlands, prompting Saigon to begin a strategic redeployment from the western half of II Corps. Although the Liaison Service's Groups 2 and 3 provided security for the withdrawing masses the redeployment soon turned into a rout. In the hasty withdrawal Group 2 had forgotten two recon teams in Cambodia; these later walked the entire distance back to the Vietnamese coast. After the fall of the Central Highlands government forces in I Corps began to panic, sparking an exodus to the south. In the confusion Group I of the Liaison Service attempted to provide security for the sealift to Saigon. Meanwhile, the SMS boarded boats on 30 March for Vung Tau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;With the entire northern half of the country lost, Saigon attempted to regroup its forces. 81 Airborne Ranger Group, which had arrived from II Corps in a state of disarray, was refitted at Vung Tau. The Liaison Service was posted in Saigon, with Groups I and 3 reinforcing Bien Hoa and Group 2 protecting the fuel depots. The SMS also reformed in Saigon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;On 6 April 1975 SMS recon teams sent northeast and northwest of Phan Rang discovered elements of two North Vietnamese divisions massing on the city. An additional 100 SMS commandos were flown in as reinforcements, but were captured at the airport as the North Vietnamese overran Phan Rang. A second tak force of 40 Loi Ho commandos was infiltrated into Tay Ninh to attack an NVA command post; the force was intercepted and only two men escaped. By mid April 81 Airborne Ranger Group was put under the operational control of 18th Division and sent to Xuan Loc, where the unit was smashed. The remnants were pulled back to defend Saigon. By the final days of April the NVA had surrounded the capital. Along with other high officials, the STD commander escaped by plane on 27 April. On the next day 500 SMS commandos and STD HQ personnel commandeered a barge and escaped into international waters. The remainder of the Liaison Service fought until capitulation on 30 April.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;REPUBLIC OF VIETNAM&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;NAVAL SPECIAL FORCES&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In 1960 the South Vietnamese Navy proposed the creation of an Underwater Demolitions Team to improve protection of ships, piers and bridges. Later in the year a navy contingent was sent to Taiwan for UDT training; the one officer and seven men who completed the course became the cadre for a Lien Doi Nguoi Nhai (LDNN), or Frogman Unit, formally established in July 1961. The LDNN, with a proposed strength of 48 officers and men, was given the mission of salvage, obstacle removal, pier protection and special amphibious operations.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Soon after the creation of the LDNN a second unit was formed: Biet Hai, or 'Special Sea Force', paramilitary commandos under the operational control of Diem's Presidential Liaison Office and given responsibility for amphibious operations against North Vietnam. US Navy SEAL (Sea, Air and Land) commando teams began deploying to South Vietnam in February 1962 and initiated in March a six month course for the first Biet Hai cadre in airborne, reconnaissance and guerrilla warfare training. By October, 62 men had graduated from the first cycle. A planned second contingent was denied funding.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In early 1964 the LDNN, numbering only one officer and 41 men, began special operations against VC seabome infiltration attempts. Six Communist junks were destroyed by the LDNN at Ilo Ilo Island in January during Operation 'Sea Dog'. During the following month the LDNN began to be used against North Vietnamese targets as part of Operation Plan 34A, a covert action program designed to pressure the Ha Noi regime. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In February a team unsuccessfully attempted to sabotage a North Vietnamese ferry on Cape Ron and Swatow patrol craft at Quang Khe. Missions to destroy the Route I bridges below the 18th Parallel were twice aborted. In March most of the LDNN was transferred to Da Nang and colocated with the remaining Biet Hai conunandos. During May North Vietnam operations resumed by LDNN teams working with newly trained Biet Hai boat crews. On 27 May they scored their first success with the capture of a North Vietnamese junk. On 30 June a team landed on the North Vietnamese coast near a reservoir pump house. Ile team was discovered and a hand to hand fight ensued; two LDNN commandos lost their lives and three 57mm recoiless rifles were abandoned, but 22 North Vietnamese were killed and the pump house was destroyed.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In July a second class of 60 LDNN candidates was selected and began training in Nha Trang during September. Training lasted 16 weeks, and included a 'Hell Week' in which students were required to paddle a boat 115 miles, run 75 miles, carry a boat for 21 miles and swim 10 miles. During the training cycle team members salvaged a sunken landing craft at Nha Trang and a downed aircraft in Binh Duong Province. Thirty-three men completed the course in January 1965 and were based at Vung Tau under the direct control of the Vietnamese Deputy Chief of Naval Operations (Operations).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In 1965 the LDNN was given responsibility for amphibious special operations in South Vietnam. Maritime operations against North Vietnam were given exclusively to the Da Nang based Biet Hai commandos and Hai Tuan boat crews, both incorporated into the new seaborne component of the STD, the So Phong Ve Duyen Hai (Coastal Security Service or CSS). The CSS, a joint services unit, was headed by an Army lieutenant colonel until 1966, then by a Navy commander. CSS missions focused almost entirely on short duration sabotage operations lasting one night, and had a high success rate. The CSS relied heavily on special operations teams temporarily seconded from other services. Teams on loan from the Vietnamese Navy considered most effective, were codenamed 'Vega'. Other teams came from the Vietnamese Marine Corps ('Romulus') and Army ('Nimbus'). The CSS also controlled 40 civilian agents ('Cumulus') until the mid 1960s. Unofficialy, the term Biet Hai was used for all CSS forces, regardless of original service affiliation. CSS training was conducted at Da Nang under the auspices of US Navy SEAL, US Marine, and Vietnamese advisors. Further support was provided by the CSS's Da Nang based US counterpart, the Naval Advisory Detachment, a component of MACVSOG.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;By the mid 1960s US Navy SEAL teams were being rotated regularly through South Vietnam on combat tours. Specialists in raids, amphibious reconnaissance and neutralization operations against the VC infrastructure, the SEALs worked closely with the LDNN and began qualifying Vietnamese personnel in basic SEAL tactics. In November 1966 a small cadre of LDNN were brought to Subic Bay in the Philippines for more intensive SEAL training.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In 1967 a third LDNN class numbering over 400 were selected for SEAL training at Vung Tau. Only 27 students finished the one year course and were kept as a separate Hai Kich ('Special Sea Unit,' the Vietnamese term for SEAL) unit within the LDNN. Shortly after their graduation the Communists launched the Tet Offensive most of the LDNN SEALs were moved to Cam Ranh Bay, where a fourth LDNN class began training during 1968. During the year the Vietnamese SEALs operated closely with the US Navy SEALS. The LDNN SEAL Team maintained its focus on operations within South Vietnam, although some missions did extend into Cambodia. Some missions used parachute infiltration.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LDNN after Tet&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In 1971, in accordance with increased operational responsibilities under the Vietnamization program, the LDNN was expanded to the Lien Doan Nguoi Nhai (LDNN), or Frogman Group, comprising a SEAL Team, Underwater Demolitions Team, Explosive Ordnance Disposal Team and Boat Support Team. Headquarters remained in Saigon. For the remainder of 1971 the SEALs operated in 12 18-man detachments on neutralization operations and raids inside South Vietnam. SEAL launch sites included Ho Anh, north of Da Nang, Hue and Tinh An.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;During the 1972 Easter Offensive the SEALs were transferred to Hue to conduct operations against NVA forces holding Quang Tri; after Quang Tri was retaken some of the SEALs went to Quang Ngai to resume VC neutralization operations. After US Navy SEAL advisors were withdrawn in late 1972 the LDNN SEAL Team, now 200 strong, took over training facilities at Cam Ranh Bay; training, however, was cut in half, with only one fifth given airborne training. The SEALs had been augmented by ten graduates out of 21 LDNN officer candidates sent to the US for SEAL training in 1971.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;When the Vietnam ceasefire went into effect in 1973 the SEALs returned to LDNN Headquarters in Saigon. At the same time the CSS was dissolved, with the Navy contingent given the option of transferring to the LDNN.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In late December 1973 the government reiterated its territorial claim to the Paracel Island chain off its coast and dispatched a small garrison of militia to occupy the islands. By early January 1974 the Chinese, who also claimed the islands, had sent a naval task force to retake.the Paracels. On 17 January 30 LDNN SEALs were infiltrated on to the western shores of one of the major islands to confront a Chinese landing party. The Chinese had already departed; but two days later, after SEALs landed on a nearby island, Chinese forces attacked with gunboats and naval infantry. Two SEALs died and the rest were taken prisoner and later repatriated.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;During the final days of South Vietnam a 50 man SEAL detachment was sent to Long An; the remainder were kept at LDNN Headquarters in Saigon along with 200 new SEAL trainees. During the early evening of 29 April all SEAL dependents boarded LDNN UDT boats and left Saigon; a few hours later the SEALs departed the capital, linked up with the UDT boats, and were picked up by the US 7th Fleet in international waters.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;By Ken Conboy &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZtIDz7-xI/AAAAAAAAEwI/8_hIr_ypbzY/s1600-h/T-Cloud+Team+3+1.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 267px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZtIDz7-xI/AAAAAAAAEwI/8_hIr_ypbzY/s400/T-Cloud+Team+3+1.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356588792033311506" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-5933007024626535454?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/5933007024626535454/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/lich-su-nha-ky-thuat-history-by-ken.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/5933007024626535454'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/5933007024626535454'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/lich-su-nha-ky-thuat-history-by-ken.html' title='Lịch Sử Nha Kỹ Thuật / History by Ken Conboy'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZuVcWj4tI/AAAAAAAAEwQ/xMWPV5tQrBE/s72-c/KenConboypicteam.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-2725539894160414288</id><published>2009-07-09T15:11:00.001-07:00</published><updated>2009-07-09T15:12:24.864-07:00</updated><title type='text'>Thành Lập MACSOG Và Nha Kỹ Thuật / Trần Đổ Cẩm</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZrK2pLeEI/AAAAAAAAEwA/NAzHKPABFgw/s1600-h/VietnamSilvey.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 297px; height: 400px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZrK2pLeEI/AAAAAAAAEwA/NAzHKPABFgw/s400/VietnamSilvey.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356586641014880322" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VI. Thành Lập MACSOG Và Nha Kỹ Thuật &lt;br /&gt;Một điều đáng để ý là tuy OPLAN 34A dự trù xử dụng quân lực miền Nam, nhất là quân chủng Hải Quân, nhưng phía VNCH lại không được tham khảo ý kiến khi soạn thảo để kịp thời chuẩn bị. Mãi tới ngày 21 tháng giêng năm 1964, khi kế hoạch đã được Bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ đồng ý cho thi hành đợt 1, Đại Sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Logde mới thông báo với Quốc Trưởng Việt Nam Dương Văn Minh về kế hoạch OPLAN 34A cùng cho biết chính phủ Hoa Kỳ đã chấp thuận kế hoạch này và yêu cầu VIệt Nam hợp tác bằng cách cho quân đội tham gia. Ngày 24 tháng giêng, Toán Hành Quân Đặc Biệt (Special Operations Group - SOG) được chính thức thành lập do Đại Tá Clyde Russell chỉ huy, dưới quyền điều động của Phái Bộ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV). Do đó, cơ quan đảm trách những cuộc hành quân đặc biệt này thường được gọi tắt là MACV-SOG hay MACSOG. Sau này, vào năm 1964, tên Special Operation Group được đổi là Studies and Observation Group (Toán Nghiên Cứu và Quan Sát) cho có vẻ "dân sự" hơn, nhưng tên viết tắt vẫn là MACSOG.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhìn chung, kế hoạch OPLAN 34A do MACSOG chịu trách nhiệm và gồm có 4 thành phần chính: thả toán bằng phi cơ, tiếp tế bằng phi cơ, hoạt động đường biển và chiến tranh tâm lý. Trong số này, toán "hàng không" có đông nhân viên nhất vì được thừa hưởng 169 nhân viên Việt Nam đa số là dân sự đang được huấn luyện tại Long Thành do CIA để lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 28 tháng giêng năm 1964, cuộc chỉnh lý củaTướng Nguyễn Khánh khiến kế hoạch của MACSOG bị chậm lại vì Hoa Kỳ cần phải được sự chấp thuận và hợp tác của chính phủ mới. Tướng Khánh là một người chủ trương "Bắc Tiến" nên tới ngày 12 tháng 2, Sở Kỹ Thuật (Strategic Technical Service - STS) thuộc Bộ Quốc Phòng VNCH được thành lập do Đại Tá Trần Văn Hổ chỉ huy để hoạt động song hành với MACSOG. Sở Kỹ Thuật là hậu thân của Sở Khai Thác Địa Hình (Topographic Exploitation Service) trước đây của Đại Tá Lê Quang Tung dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Về sau, Sở Kỹ Thuật được đổi tên thành Nha Kỹ Thuật (Strategic Technical Directorate - STD). &lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-2725539894160414288?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/2725539894160414288/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/thanh-lap-macsog-va-nha-ky-thuat-tran-o.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/2725539894160414288'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/2725539894160414288'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/thanh-lap-macsog-va-nha-ky-thuat-tran-o.html' title='Thành Lập MACSOG Và Nha Kỹ Thuật / Trần Đổ Cẩm'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZrK2pLeEI/AAAAAAAAEwA/NAzHKPABFgw/s72-c/VietnamSilvey.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-692079046867019022</id><published>2009-07-09T14:48:00.000-07:00</published><updated>2009-08-13T21:57:40.098-07:00</updated><title type='text'>TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA BẠN TRẺ QUÁCH VI</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZmBZSFhgI/AAAAAAAAEvw/PGyVL3c_C5g/s1600-h/0000.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 300px; height: 400px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZmBZSFhgI/AAAAAAAAEvw/PGyVL3c_C5g/s400/0000.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356580980956431874" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA BẠN TRẺ QUÁCH VI&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở LOS ANGELES VỀ QLVNCH&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 11/06/2006 - Phạm Phong Dinh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà văn TRẦN VIỆT HẢI ở Los Angeles đă nhận được thư hỏi của bạn Quách Vi ở thành phố Los Angeles và đă chuyển thư đó đến cho chúng tôi. Những câu hỏi của bạn trẻ Quách Vi thật thú vị, hay và lạ, phản ảnh sự quan tâm của giới trẻ Việt Nam ngày nay đối với Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Thú vị bởi các bạn trẻ đa số theo cha mẹ di tản sang Mỹ từ thuở c̣n rất nhỏ, hoặc sinh ra và lớn lên trên xứ người, nhưng các bạn vẫn tìm kiếm những sự thật về cội nguồn của ḿnh, trong đó có những Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa từng một thời anh dũng chiến đấu bảo vệ đất nước và dân tộc, mà chắc rằng gia đ́nh, ông bà, cha mẹ của các bạn trẻ đă thụ nhận công lao và ân nghĩa máu xương ấy của các anh. Sự hiện hữu của gần ba triệu người Việt, trong đó có thành phần thế hệ trẻ Việt Nam trên những đất nước tự do toàn thế giới : Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Nhật,... sau ba mươi mốt năm không phải là một sự đương nhiên, mà chính là do sự tận lực chiến đấu đến tận ngày cuối cùng là ngày 30.4.1975 của Những Ngưới Lính QLVNCH, ngăn chận bước tiến của giặc cộng, để cho hàng trăm ngàn người di tản có được những khoảng thời gian tối thiểu an toàn ra đi. Hayï là v́ bạn trẻ đă có lẽ tự t́m hiểu được nhiều danh xưng của những đơn vị chiến đấu của QLVNCH. Lạ là do bạn trẻ đă hỏi chúng tôi làm sao phân biệt được sự khác nhau giữa các binh chủng. Đó là những câu hỏi lần đầu tiên chúng tôi rất sung sướng được nghe và được hỏi, v́ bạn Quách Vi đă cho chúng tôi một cơ hội để đem h́nh ảnh Người Lính QLVNCH đến gần các bạn trẻ hơn. Xin cám ơn bạn rất nhiều.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bạn trẻ Quách Vi đặt cho chúng tôi ba câu hỏi như sau, mà chúng tôi mạo muội xin các bậc đàn anh trong quân đội cho phép được giải đáp một cách tổng quát :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1./ Tại sao QLVNCH lập ra ba binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân ? Vai tṛ của họ có trùng hợp hay không ? Nếu trùng hợp tại sao lại phân chia ra như vậy ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2./ Biệt Cách Dù và Lực Lượng Đặc Biệt có giống nhau không ? Biệt Kích Mỹ và Lực Lượng Đặc Biệt (Special Forces) là một hay khác nhau ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3./ Biệt Cách Dù và Nhảy Dù đều dùng Dù th́ hai đơn vị này có liên hệ mật thiết về kỹ thuật hành quân, chiến thuật tác chiến, có đúng không ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin được lần lượt trả lời từng câu hỏi của bạn trẻ Quách Vi như sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vai tṛò của ba binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân không có sự trùng hợp, bởi sự phân nhiệm chiến đấu từ lúc khởi đầu các binh chủng này được h́nh thành. Mỗi binh chủng thực hiện phần trách nhiệm của ḿnh trong cuộc chiến tranh tự vệ chống cộng sản Miền Bắc, đáp ứng với sự biến chuyển của từng thời kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Binh chủng Nhảy Dù : Là một trong những lực lượng chính qui của QLVNCH được thành lập sớm nhất, gắn liền với lịch sử h́nh thành cùa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;QLVNCH , là binh chủng anh cả của toàn quân đội. Đơn vị Nhảy Dù Việt Nam được thành lập đầu tiên chính là Đại Đội 1 Nhảy Dù Đông Dương, vào ngày 1.1.1948, chiến đấu dưới sự điều động của quân đội Pháp tại Việt Nam. Những Đại Đội Dù khác tiếp theo được thành lập. Ba năm sau, các Đại Đội Nhảy Dù Việt Nam được nâng lên cấp tiểu đoàn. Các Tiểu đoàn Dù VN hoạt động như là những đơn vị tổng trừ bị, sẵn sàng ứng chiến và phản ứng nhanh trong bất kỳ hoàn cảnh nào, có mặt trong thời gian sớm nhất ở bất cứ mặt trận nào, với nhiệm vụ giải tỏa áp lực địch lên quân bạn, giải quyết cán cân chiến trường. Ở thời điểm đó, quân đội Pháp hăy c̣n dùng chiến thuật nhảy dù từ trên không xuống để tràn ngập trận địa và thanh toán nhanh chiến trường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi đất nước bị phân đôi từ ngày 20.7.1954, th́ gần như toàn bộ các lực lượng quân đội Việt Nam đều di chuyển vào Miền Nam. Ngày 1.5.1955, Liên Đoàn Nhảy Dù được thành lập. Mười năm sau, ngày 1.12.1965, chương sử mới của binh chủng Nhảy Dù được mở ra với buổi lễ xuất quân hùng hậu của Sư Đoàn Nhảy Dù với thành phần gồm 3 lữ đoàn bao gồm 9 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh và các tiểu đoàn yễm trợ tiếp vận. Với chiều dầy kinh nghiệm chiến đấu trên mọi chiến trường lớn và khốc liệt từ Bắc vào Nam, với những thành tích lừng lẫy, binh chủng Nhảy Dù vẫn luôn được Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH tin tưởng trong vai tṛ làm lực lượng Tổng Trừ Bị. Tổng Trừ Bị khác với các sư đoàn bộ binh ở chỗ Nhảy Dù luôn luôn di động khắp mọi miền đất nước để đáp ứng với đ̣i hỏi khẩn cấp của những mặt trận mà những đơn vị bộ binh hay Địa Phương Quân không giải quyết được. Sư đoàn bộ binh chỉ hoạt động trong khu vực quân khu và khu chiến thuật của ḿnh, rất ít ra khỏi vùng trách nhiệm, ngoại trừ một vài biệt lệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến : Sau Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến là một lực lượng kỳ cựu của quân đội VNCH, xuất thân từ các Đại Đội Commandos, Đại Đội Yễm Trợ Giang Đoàn của hai quân chủng Hải Quân và Lục Quân (Quân chủng là những lực lượng lớn mà trong đó có thành phần là những lực lượng nhỏ, binh chủng hay sư đoàn). Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được chính thức thành lập từ Sắc Lệnh ngày 15.10.1954 do Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm kư ban hành. Hai điều khoản 1 và 3 của Sắc Lệnh quy định rơ nhiệm vụ của Thủy Quân Lục Chiến như sau :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều khoản 1 : Hiệu lực kể từ ngày 1.10.1954, nay thành lập trong tổ chức Hải Quân Việt Nam một binh chủng bộ binh đặc trách kiểm soát các thủy tŕnh và thực hiện những cuộc hành quân thủy bộ dọc theo bờ biển Nam Hải và trong sông ng̣i, mang tên “Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến “ hay “Bộ Binh Hải Quân”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều khoản 3 : Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến sẽ gồm nhiều đơn vị khác nhau tùy theo nhiệm vụ, đă có sẵn trong quân chủng Hải Quân và Lục Quân, hay sẽ được thành lập tùy theo kế hoạch phát triễn của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa. Ngày 1.1.1955, các Đại Đội Commandos (cũng thuộc quyền điều động của Pháp và vào Nam sau ngày 20.7.1954) cùng các Đại Đội Yễm Trợ Giang Đoàn được kết hợp nâng lên thành Tiểu Đoàn 1 TQLC. Sau đó là việc h́nh thành Tiểu Đoàn 2 TQLC. Quân số tăng trưởng đến cấp liên tiểu đoàn, nên có đề nghị từ cấp chỉ huy TQLC cho nâng binh chủng lên ngang tầm với Nhảy Dù, trở thành một binh chủng biệt lập với Hải Quân và được làm lực lượng Tổng Trừ Bị cho Bộ Tổng Tham Mưu. Kế hoạch này măi đến năm 1965 mới được chấp thuận, Bộ Tư Lệnh TQLC được thành lập để chỉ huy hai Chiến Đoàn TQLC với 5 tiểu đoàn TQLC và 1 tiểu đoàn pháo binh, tách ra khỏi Hải Quân và chính thức mang danh xưng dầy kiêu hănh : Tổng Trừ Bị của QLVNCH. Sau Tết Mậu Thân 1968, với thành tích chiến thắng ở hai mặt trận lớn là Sài G̣n và Huế của Thủy Quân Lục Chiến, Bộ Tổng Tham Mưu thấy đă đến lúc cho thành lập Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Đến năm 1970 thì́ Sư Đoàn có 3 Lữ Đoàn với 9 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh và các tiểu đoàn yễm trợ tiếp vận. Tình hình chiến trường sau năm 1968 đă trở nên nặng độ, một Sư Đoàn Dù không đủ cáng đáng được nhiều mặt trận lớn cùng một lúc, Sư Đoàn TQLC nhận vinh dự làm lực lượng Tổng Trừ Bị QLVNCH, hănh diện sánh vai và chia sẻ gánh nặng chiến trường với Sư Đoàn Nhảy Dù, nhưng vẫn giữ nhiệm vụ khởi đầu từ năm 1954 là hành quân thủy bộ, kiểm soát vùng biển và sông ngòi Miền Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Binh chủng Biệt Động Quân : Là một lực lượng đàn em của hai binh chủng Dù và TQLC, ra đời ngày 1.7.1960 để đáp ứng với hình thái chiến tranh du kích của Việt cộng ở Miền Nam bắt đầu dậy lên từ năm 1959 với những hành động tàn bạo của chúng như ám sát, bắt cóc, khủng bố, đấp mô, gài ḿn trên đường, phá cầu cống, ngăn trở giao thông,...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ đă giúp huấn luyện binh chủng Biệt Động Quân. Tổng Thống Ngô Đình Diệm của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa đă chỉ thị Nhảy Dù, các sư đoàn bộ binh tuyển những chiến sĩ t́nh nguyện sang chiến đấu dưới màu cờ của binh chủng Biệt Động Quân. Nên sau này các bạn trẻ thấy nhiều vị chỉ huy BĐQ và sĩ quan có người mang trên ngực áo những cánh dù trắng. Dần dần, có 65 đại đội BĐQ được thành lập. Năm 1961, một dự án được Tổng Thống Diệm phê chuẩn để nâng tổng số lên thành 81 đại đội BĐQ. Biệt Động Quân có nghĩa là một lực lượng quân đội có những công tác hoạt động đặc biệt và hành quân biệt lập. Những đại đội BĐQ được huấn luyện chiến thuật phản du kích, chống sự xâm nhập của thổ phỉ Việt cộng vào những vùng kiểm soát của Quân Đội VNCH, t́m và tiêu diệt địch ngay trong những an toàn khu của chúng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổng Thống Diệm đă đích thân chọn lựa những đại đội ưu tú nhất của các sư đoàn bộ binh để cải chuyển sang thành các đại đội BĐQ. Như vậy, Biệt Động Quân giải quyết những chiến trường nhỏ, đương đầu với những toán Việt cộng, thường thường là cấp đại đội, chủ động t́m và đánh vào chỗ trú ẩn của chúng trước, chứ không chờ đợi mặt trận nổ lớn rồi mới đến, hay mở những cuộc hành quân lùng địch cấp tiểu đoàn, lữ đoàn hoặc chiến đoàn như Dù và TQLC.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1963, binh đội cộng sản Bắc Việt bắt đầu vào Miền Nam mở những trận đánh lớn cấp tiểu đoàn. Để thích ứng với với t́nh h́nh khẩn trương đó, cấp đại đội không c̣n đủ hỏa lực đối đầu với cấp tiểu đoàn địch, các đại đội BĐQ được kết hợp thành tiểu đoàn. Khi địch mở những trận địa chiến cấp trung đoàn, các tiểu đoàn BĐQ lại được kết hợp thành những liên đoàn, mỗi liên đoàn có 3 tiểu đoàn bộ binh. Đó là thời điểm sau năm 1966, song song với sự phát triễn lớn mạnh của toàn QLVNCH, BĐQ cũng được nâng lên cấp Liên Đoàn, với năm Liên Đoàn 1, 2, 3, 4 và 5 BĐQ. Mỗi liên đoàn được làm thành phần trừ bị của mỗi Vùng Chiến Thuật mang con số tương ứng, riêng Liên Đoàn 5 trực thuộc Vùng III Chiến Thuật. Như vậy từ thời điểm 1966, lực lượng Mũ Nâu BĐQ đă chia gánh nặng chiến tranh với hai binh chủng đàn anh trong vai tṛ trừ bị Vùng, sau này là trừ bị quân khu (từ cuối tháng 10.1970, Vùng được đổi tên là Quân Khu). Đến cuối năm 1970, Lực Lượng Đặc Biệt được giải thể, nhiều binh sĩ và sĩ quan chuyển sang BĐQ. Đồng thời lực lượng Dân Sự Chiến Đấu Thượng (CDIG) và Biệt Kích Thượng Mike Force cũng được sáp nhập vào BĐQ, nâng tổng số tiểu đoàn lên đến 54. Đầu năm 1973, Bộ Tổng Tham Mưu soạn thảo một kế hoạch tái tổ chức binh chủng BĐQ, kếp hợp 54 tiểu đoàn thành 15 Liên Đoàn BĐQ, làm thành phần trừ bị chiến thuật cho ba Quân Khu I, II và III, bởi Sư Đoàn Dù và TQLC đă được Quân Khu I cầm giữ vô thời hạn, QLVNCH cần đến BĐQ như là một lực lượng thay thế, ít nhất là cơ động phản ứng, tăng viện và tiếp cứu nhanh trong mỗi quân khu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tình hình càng đòi hỏi, quân số Tổng Trừ Bị thiếu hụt, nên Bộ Tổng Tham Mưu đă nâng các Liên Đoàn 4, 6 và 7 BĐQ lên thành Tổng Trừ Bị. Năm 1975, có kế hoạch tổ chức đến 4 sư đoàn BĐQ phân phối cho bốn quân khu, nhưng chỉ có Sư Đoàn 101 BĐQ được hình thành trong tháng 4.1975 tại Sài Gòn. Kết luận :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mỗi binh chủng từ lúc thành lập nhận một nhiệm vụ chiến thuật, chiến lược riêng và dần dần tiến hóa biến đổi theo cùng với t́nh h́nh. Từ sau năm 1971 trở đi, cộng sản Hà Nội đă mở những mặt trận kiểu quy ước chiến (có nghĩa là dàn quân đánh lớn bằng đủ loại hỏa lực chúng có, thách thức ư chí và sức mạnh của QLVNCH), nên ba binh chủng xuất sắc nhất của QLVNCH là Dù, TQLC và BĐQ cũng phải dàn đại quân nghênh chiến. Đánh lớn khắp nơi, những đặc điểm riêng của từng binh chủng không c̣n được phân biệt rơ, để chỉ c̣n một binh pháp chung, là cùng làm Tổng Trừ Bị. Mỗi binh chủng đều có những kinh nghiệm, quan niệm hành quân và chiến thuật cá biệt, cơ cấu tổ chức và huấn luyện khác nhau. Nói là trùng hợp th́ không hẳn đúng, v́ quân đội cần rất nhiều lực lượng tổng trừ bị để tung ra các chiến trường đỏ lửa. Mỗi binh chủng có màu cờ, màu mũ đội trên đầu, sắc áo riêng và niềm hănh diện truyền thống của binh chủng ấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2./ Biệt Cách Dù và Lực Lượng Đặc Biệt có giống nhau không ?Câu trả lời là Có và Không. Có là vì các chiến sĩ ấy cùng chiến đấu dưới huy hiệu chung của Lực Lượng Đặc Biệt (Hình con Hổ Nhảy Dù). Không là vì́ nhiệm vụ mỗi bên khác nhau. Lực Lượng Đặc Biệt được thành lập năm 1957, với những nhiệm vụ bí mật và đặc biệt như nhảy ra Bắc lấy tin tức, sách động dân chúng, các sắc tộc nổi dậy, viễn thám sang đất Lào, quấy phá vùng biển miền Bắc. Năm 1961, LLĐB thành lập thêm một số Đại Đội Biệt Cách Nhảy Dù Biệt Lập để làm thành phần hỗ trợ, ứng cứu cho những toán nhảy qua Lào hay ở những vùng biên giới nguy hiểm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1964, các Đại Đội BCD được kết hợp thành Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù, vẫn chịu sự chỉ huy của LLĐB. Năm 1968, Tiểu đoàn được cải danh thành Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Song song với hoạt động của Tiểu Đoàn 91 BCD, LLĐB c̣n thành lập Trung Tâm Hành Quân Delta. Tháng 8.1970, LLĐB được giải thể (bởi sau năm 1968, LLĐB không c̣n phụ trách xâm nhập đất liền và vùng biển miền Bắc nữa), binh chủng chỉ c̣n tồn tại Trung Tâm Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 81 BCD, hai đơn vị này sáp nhập lại thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, quân số dần dần lên đến 3,000 chiến sĩ và được chia ra làm ba Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật. Mỗi Bộ Chỉ Huy Chiến thuật có 4 Biệt Đội, mỗi Biệt Đội có 200 chiến sĩ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Biệt Cách Nhảy Dù (Mỹ gọi là Airborne Ranger) có nghĩa là hành quân biệt lập và cách biệt với mọi binh chủng bạn, bởi nhiệm vụ quá đặc biệt và bí mật của binh chủng này. Nhiệm vụ chính yếu là nhảy toán (mỗi toán thông thường là 6 người), thâm nhập vào các mật khu, hậu cứ địch để lấy tin tức, quấy rối, phá hoại căn cứ địch, bắt cóc tù binh, cung cấp tọa độ đánh bom cho Không Quân, khám phá những kho vũ khí, thực phẫm của địch. Khi t́nh thế cho phép th́ các chiến sĩ BCD cũng tổ chức đánh địch ngay trong ḷng địch. Nói chung, Liên Đoàn 81 BCD được h́nh thành không phải để nhận nhiệm vụ đánh trận địa chiến. Các chiến sĩ BCD được ví von như là những chiếc “chén kiểu” quí giá vô cùng, v́ các anh được huấn luyện cho những công tác thật đặc biệt. Sở trường của BCD là đánh đêm. Tuy nhiên, khi t́nh h́nh nguy ngập như trong Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lừa 1972, Phước Long 1974, Bộ Tổng Tham Mưu đă sử dụng Liên Đoàn 81 BCD như là một lực lượng Tổng Trừ Bị tăng viện, tiếp cứu và thanh toán chiến trường. Sau chiến thắng Mùa Hè 1972 ở An Lộc&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;và Quảng Trị, Liên Đoàn 81 BCD được vinh dự làm lực lượng Tổng Trừ Bị sánh vai với các binh chủng tinh hoa bậc nhất của QLVNCH. Cán binh Hà Nội học thuộc ḷng câu kinh nhật tụng sau đây : “Có ba thứ trong Nam là tử thần, đừng gặp là hơn : Nhảy Dù - Biệt Cách Dù và Bom B 52”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin trả lời câu hỏi : Biệt Kích Mỹ và Lực Lượng Đặc Biệt (Special Forces) là một hay khác nhau. Câu trả lời là hoàn toàn khác nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin nói về LLĐB trước : Thành lập năm 1957 và nằm dưới quyền điều động của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH để thực hiện những công tác đặc biệt và tối mật : nhẩy ra Bắc lấy tin tức, trà trộn vào dân chúng Việt Nam hay người sắc tộc, thám sát những hệ thống tiếp vận trên đường ṃn Hồ Chí Minh, nhẩy sang Lào thám sát hệ thống đường ṃn HCM, đổ bộ và quấy phá vùng biển miền Bắc. LLĐB là một binh chủng nằm trong QLVNCH. Mối tương quan duy nhất của LLĐB với Biệt Kích Mỹ là cùng đóng chung trong những trại biên pḥng dọc theo biên giới Việt - Miên - Lào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LLĐB được giải thể tháng 8.1970 vì đă hết nhiệm vụ nhẩy Bắc, nhẩy Lào và đổ bộ biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Biệt Kích Mỹ : Danh từ này rất mơ hồ, dùng để chỉ chung hai lực lượng được CIA Mỹ mướn và trả lương, hoàn toàn không thuộc về QLVNCH :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;a./ Pḥòng Vệ Dân Sự : CDIG (Civil Defence Irregular Group). Gồm toàn những thanh niên người Thượng của nhiều bộ tộc ở cao nguyên miền Trung, ở vùng biên giới Việt - Miên - Lào, một số khác là người Việt gốc Miên. CDIG có nhiệm vụ đồn trú trong những trại dọc biên giới Việt - Miên - Lào ở những nới CIA nghi ngờ là những điểm từ đó binh đội Bắc Việt xâm nhập vào lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa. CIA nghĩ rằng người Thượng, người Miên là dân tộc miền núi chiến đấu giỏi, thông thuộc rừng núi, là nơi sinh ra và lớn lên của họ. Thông thường mỗi trại quân số lên đến vài trăm người, có sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ chỉ huy, sau này lại có thêm sĩ quan LLĐB Việt Nam đến, nhưng coi bộ quân CDIG không thích mấy và rất miễn cưỡng chịu thi hành lệnh của sĩ quan LLĐB Việt Nam. Các trại biên pḥng luôn là mục tiêu tấn công của quân cộng, v́ các trại ấy là trở ngại rất khó chịu trên đường xâm nhập hay hoạt động của chúng trong lănh thổ VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;b./ Biệt Kích Mỹ : hay c̣n gọi là Mike Force do danh xưng Mobile Strike Force (Lực Lượng Tấn Công Cơ Động). Lính Biệt Kích Mỹ giống như Pḥng Vệ Dân Sự, do CIA mướn và trả lương, với thành phần là người Thượng và Miên. Họ mặc áo rằn ngụy trang(camouflag) rất khác biệt và rất dễ nhận ra so với áo rằn Dù, rằn TQLC, BCD, hay hoa rừng của BĐQ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lính Mike Force, như danh xưng, là một lực lượng hành quân tích cực hơn CDIG, thông thường là tiếp cứu những trại Pḥng Vệ Dân Sự bị cộng quân tấn công. Biệt Kích Mỹ không có nhiệm vụ tiếp cứu các đồn trại của QLVNCH. Nhưng ngược lại, nếu cần th́ chính các đơn vị QLVNCh sẽ tiếp cứu các trại CDIG và Biệt Kích Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1970, LLĐB Mỹ rút về nước, bàn giao CDIG và Mike Force cho QLVNCH, từ đó quân số hai lực lượng này nằm trong quân số của QLVNCH, do chính quyền VNCH quản trị và trả lương. Bộ Tổng Tham Mưu đổi tên hai lực lượng này thành Biệt Động Quân Biên Pḥng cấp tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn trấn đóng một trại biên pḥng dọc theo biên giới Việt - Miên - Lào khắp bốn Vùng Chiến Thuật. Cuối năm 1973, Bộ Tổng Tham Mưu quyết định băi bỏ các trại biên pḥng, cho sáp nhập BĐQ Biên Pḥng vào hợp chung với Biệt Động Quân b́nh thường, và đều nằm chung dưới quyền chỉ huy của Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân. Có tất cả 54 tiểu đoàn BĐQ vừa biên pḥng vừa b́nh thường được gom lại thành 45 tiểu đoàn, từ đó thành lập 15 liên đoàn BĐQ phân phối trên ba Quân Khu I, II và III (Quân Khu IV với các sư đoàn bộ binh và lực lượng Địa Phương Quân - Nghĩa Quân lớn mạnh, đủ sức đánh dẹp quân cộng, nên không cần các binh chủng Tổng Trừ Bị và BĐQ nữa). 3./ Biệt Cách Dù và Nhảy Dù đều dùng dù th́ có liên hệ mật thiết về kỹ thuật hành quân và tác chiến không ? Câu trả lời là Không, bởi lẽ nhiệm vụ chiến thuật, chiến lược của hai binh chủng hoàn toàn khác nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhảy Dù : Binh chủng Tổng Trừ Bị, có nhiệm vụ đánh trận địa chiến, kết hợp liên binh chủng rất hùng hậu như pháo binh, thiết giáp, không quân. Tuy mang tiếng nhảy dù, nhưng những trận đánh có nhảy dù thực sự từ trên máy bay xuống rất ít, chỉ một đôi lần, thí dụ rơ nhất là trận Ấp Bắc năm 1963. Về sau, v́ hỏa lực pḥng không của địch quá mạnh, chiến trường đa số thuộc vùng rừng núi rất trở ngại cho việc nhảy dù, nên kỹ thuật được ưa thích nhất là nhảy từ trực thăng xuống (gọi là chiến thuật trực thăng vận), vừa an toàn, vừa tập họp binh sĩ một cách nhanh chóng và đầy đủ nhất. Tuy vậy mỗi năm, mỗi chiến sĩ Dù từ binh sĩ lên đến hàng sĩ quan, ai cũng phải nhảy dù gọi là “Nhảy bồi dưỡng” một số saut ở những địa điểm an toàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Biệt Cách Dù : (Airborne Ranger) Cũng là một binh chủng Tổng Trừ Bị nhưng hoàn toàn không nằm dưới quyền điều động của sư đoàn Nhảy Dù, quan niệm và kỹ thuật hành quân, tác chiến cũng rất khác biệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bởi nhiệm vụ đặc biệt và bí mật, nhảy toán nhỏ, nên chiến sĩ BCD hoạt động sâu trong vùng địch, hoàn toàn cách biệt với các binh chủng bạn. Binh chủng liên hệ mật thiết và luôn luôn là “ good and super friends” của BCD là các chiến sĩ trực thăng của Không Quân, và các anh Không Quân có nhiệm vụ đưa các anh BCD đến địa điểm để nhảy xuống, rồi bay đến bốc các BCD về. Cũng được học nhảy dù như các chiến sĩ Dù Mũ Đỏ, nhưng các chiến sĩ Dù Mũ Xanh BCD chưa từng nhảy dù trên trận địa bao giờ, và rất dễ bị địch phát hiện từ trên không. Biệt Cách Dù không được huấn luyện đánh trận địa chiến, trang bị hỏa lực nhẹ, đi rừng rất giỏi, đánh trong thành phố thần sầu, sở trường đánh đêm. Tuy vậy, khi cần thì́ các BCD cũng được Bộ Tổng Tham Mưu ném vào những chiến trường lớn như An Lộc, Quảng Trị Mùa Hè 1972, Phước Long 1974 để đánh trận địa chiến, các anh đă anh dũng hoàn thành sứ mạng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhân ngày Quân Lực 19.6 năm nay, kỷ niệm 41 năm ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đứng ra gánh vác trách nhiệm lèo lái, bảo vệ Tổ Quốc và Dân Tộc, chúng ta, những người còn sống dù là lính hay là dân, là thế hệ thuộc chiến tranh hay thế hệ trẻ Việt Nam trong thời b́nh, xin chân thành cúi đầu tưởng nhớ đến anh linh của 250 ngàn chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă anh dũng hy sinh trên khắp nẽo chiến trường trong ṛòng ră hai mươi năm, ngậm ngùi tiếc thương các anh và chia sẻ niềm đau cùng với hàng triệu quả phụ cô nhi, chân thành tri ân 500 ngàn chiến sĩ QLVNCH chiến thương vẫn c̣n sống khoắc khoải, đói khổ cùng cực ở quê nhà. Những người lính đă chết, các anh thương binh bên kia bờ Thái B́nh Dương và những người lính chúng ta c̣n sống, tất cả đều tự hào đă từng mặc chiếc áo lính màu xanh ô liu, hoa Dù, áo rằn Cọp Biển, Biệt Cách Dù, áo hoa rừng Biệt Động Quân, áo trắng Hải Quân, áo xanh Không Quân, kiêu hănh được chiến đấu dưới Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Đại Nghĩa Việt Nam và dưới bóng Lá Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Dù có một lần QLVNCH bị các thế lực thù và “bạn” bức tử, nhưng tất cả NHỮNG NGƯỜI LÍNH QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA vẫn luôn ngẫng cao đầu đi vào lịch sử chống xâm lăng từ phương Bắc và́ đă bền bỉ đổ máu xương bảo vệ TỔ QUỐC, làm tṛòn TRÁCH NHIỆM của người trai thời chiến. Những người lính ấy luôn nêu cao DANH DỰ của một quân đội mà luôn là cơn ác mộng triền miên của cộng sản và binh đội Bắc Việt. Chúng chỉ thắng được chúng ta, những Người Lính QLVNCH khi chúng ta đă bị buộc phải buông súng. Nếu cây súng còn trên tay, viên đạn cuối cùng vẫn còn nằm trong ṇồng súng, thì́ bọn tiểu nhân Hà Nội chưa chắc đă dám ngỗ ngáo đắc chí đến tận ngày nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau ba mươi mốt năm, chúng ta, Những Người Lính QLVNCH đă không cần súng, ấy vậy mà cộng sản Hà Nội vẫn cứ ăn không ngon, ngủ không yên. Bởi lẽ, Người Lính QLVNCH là khắc tinh, là cơn ác mộng hăi hùng của chúng đến vô tận vô cùng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phạm Phong Dinh&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-692079046867019022?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/692079046867019022/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/tra-loi-cau-hoi-cua-ban-tre-quach-vi.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/692079046867019022'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/692079046867019022'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/tra-loi-cau-hoi-cua-ban-tre-quach-vi.html' title='TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA BẠN TRẺ QUÁCH VI'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZmBZSFhgI/AAAAAAAAEvw/PGyVL3c_C5g/s72-c/0000.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-7048302544954335495</id><published>2009-07-09T14:38:00.000-07:00</published><updated>2010-05-17T10:40:35.288-07:00</updated><title type='text'>Sơ Đồ Tổ Chức Nha Kỹ Thuật</title><content type='html'>&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/R-2ZPpkcx7I/AAAAAAAABrc/hF52XZYp08w/s1600-h/File1173SDNKTSize3.jpg" onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5182967240309131186" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/R-2ZPpkcx7I/AAAAAAAABrc/hF52XZYp08w/s400/File1173SDNKTSize3.jpg" style="cursor: pointer; display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-7048302544954335495?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/7048302544954335495/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/so-o-to-chuc-nha-ky-thuat.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/7048302544954335495'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/7048302544954335495'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/so-o-to-chuc-nha-ky-thuat.html' title='Sơ Đồ Tổ Chức Nha Kỹ Thuật'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/R-2ZPpkcx7I/AAAAAAAABrc/hF52XZYp08w/s72-c/File1173SDNKTSize3.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-7230520763006158989</id><published>2009-07-09T14:31:00.003-07:00</published><updated>2009-07-09T14:34:47.594-07:00</updated><title type='text'>Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Trần Bá Tuân Chỉ Huy Phó Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk50_Tk_4aI/AAAAAAAAElM/Lme_4F9N7Vk/s1600-h/tuanvahoang.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 307px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk50_Tk_4aI/AAAAAAAAElM/Lme_4F9N7Vk/s400/tuanvahoang.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5354345637926134178" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trang 96 &lt;br /&gt;Nha Kỹ-Thuật (NKT) là cơ quan tình báo chiến lược của QLVNCH, là một đơn vị đặc trách tổ chức, hoạt động sưu tầm tin tức tình báo, phản tình báo chiến lược từ nội bộ cộng sản Bắc Việt cũng như  trong hậu tuyến địch, những nơi có cơ sở, đơn vị cộng-sản trong và ngoài lãnh thổ VNCH. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khởi đầu là Phòng 6 TTM do trung tá Lung đảm trách. Trong thời đệ nhất Cộng Hòa là sở Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống và Lực Lượng Ðặc Biệt do đại tá Lê quang Tung làm tư lệnh. Sau cuộc chỉnh biến 11/63 cho đến tháng 4/75 lần lượt chỉ huy bởi các tướng Nghiêm, Quảng, Lam-Sơn, Phú, trung tá Lan, đại tá Hổ và cuối cùng là đại tá Nu. Danh xưng được đổi từ Phòng 6, đến sở Liên Lạc Phủ TổngThống, Lực Lượng Ðặc Biệt,sở Khai thác Ðiạ hình, và cuối cùng là Nha Kỹ Thuật. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời đệ nhất Cộnghòa, mọi hoạt động được đại tá Tung trực tiếp nhận chỉ thị cũng như phúc trình với Tổng Thống Ngô đình Diệm và cố vấn Ngô đình Nhu. Cũng trong thời gian này, mọi hoạt động được cố vấn và yểm trợ bởi cơquan Trung-Ương Tình-Báo CIA Hoa Kỳ. Sau tháng 11/63 mọi hoạt động đều trực tiếp qua đại tướng TTMT bộ TTM và được cố vấn, yểm trợ bởi cơ quan tình báo quân sự Hoa Kỳ SOG (Study and Observation Group). Các đơn vị, cơ sở thuộc NKT gồm: sở Công Tác, sở Liên Lạc, sở Phòng Vệ Duyên Hải, sở Tâm Lý Chiến, sở Không Yểm và trung tâm huấn luyện Quyết Thắng. Sở Công Tác đóng tại Sơn Trà, Ðà Nẵng, đoàn 11, 72 đóng tại Ðà nẵng, đoàn 75 đóng trên Pleiku và đoàn 68 tại Saigon. Các toán trong đoàn công tác được huấn luyện xâm nhập bằng hàng không hay đường bộ vào lòng địch tại Bắc Việt hay ngoại biên Lào, Miên hoặc Thái Lan. Sở Liên Lạc đóng tại Saigon, chiến đoàn 1 tạiÐà Nẵng, chiến đoàn 2 trên Kontum và chiến đoàn 3 tại Ban Mê Thuột. Các toán thuộc sở Liên Lạc xâm nhập vào hậu tuyến địch từ vĩ tuyến 17 trở vào cho đến mũi Cà Mau. Sở Phòng Vệ DuyênHải đóng tại Tiên Sa, Ðà Nẵng gồm Lực lượng Hải Tuần thuộc Hải Quân Việt Nam, xử dụng thuyền máy PCF, PT có tốc độ nhanh, hỏa lực mạnh để hoạt động phiá bắc hải phận vĩ tuyến 17. Lực lượng Biệt Hải được huấn luyện thành các toán Người Nhái để xâm nhập vào Bắc Việt bằng đường biển. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sở Tâm Lý Chiến đóng tại số 7 đường Hồng Thập Tự, Saigon tổ chức và điều hành đài Tiếng Nói Tự Do và đàiGươm Thiêng Ái Quốc. Ngoài ra sở TLC còn có nhiệm vụ gửi cán bộ ra Bắc hoạt động trong lãnh vực tâm lý chiến. Sở Không Yểm đóng tại Saigon thuộc Không Quân Việt Nam để phối trí phi đoàn trực thăng 219, phi đoàn quansát 110 tại Ðà Nẵng trong việc xâm nhập, liên lạc, hướng dẫn và triệt xuất các toán hoạt động trong lòng địch. Trung tâm huấn luyện Quyết Thắng tại Long Thành, Biên Hoà huấn luyện về chiến tranh ngoại lệ cho các toán, các phương pháp xâm nhập vào đãt địch, hoạt-động nơi hậuphương địch, du kích chiến, ám sát, bắt cóc, phá hoại, chiến tranh tâm lý v.v... &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì lý do bảo mật, tuy cùng đơn vị, nhiều quân nhân NKT không được phép tiếp xúc hay tìm hiểu nhiệm vụ của một số chiến hữu khác. Các cơ quan, đơn vị NKT đồn trú trên khắp bốn vùng chiến thuật hạn chế tối đa sự liên lạc với các cơ quan  quân, dân, chính điạ phương. Vì vậy ít người biết về NKT hoặc chỉ biết mà không hiểu rõ về các hoạt động của NKT. Quân nhân, dân sự được tuyển chọn về NKT đều trải qua một cuộc điều tra tỉ mỉ về quá khứ và liên hệ. Tãt cả đều thuộc thành phần tình nguyện, các chiến sĩ NKT khi nhận nhiệm vụ đều thấu hiểu rằng đó là công tác gian nan nguy hiểm, khi ra đi ít hy vọng trở về an toàn. Bao nhiêu chiến sĩ đã hy sinh trên khắp vùng rừng núi Bắc Việt, ngoại biên và trong lãnh thổ VNCH. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những chiến công oanh liệt, những thành quả tối quan trọng, các chiến sĩ thuộc NKT chỉ được khen thưởng, tuyên dương âm thầm, kín đáo trong đơn vị. Trải qua 20 năm hoạt động, qua nhiều cấp chỉ huy, giám đóc, đường lối hoạt động của NKT cũng có phần ảnh hưởng bởi các thay đổi trong các cấp lãnh đạo và diễn biến chính trị quốc tế về Việt Nam. Nha Kỹ Thuật đã nhiều lần thay đổi về cơ cấu tổ chức và các hoạt động, tuy nhiên các chiến sĩ NKT luôn luôn vì Tổ Quốc sẵn sàng hy sinh, nêu cao tinh thần phục vụ cho Tự Do, cho Lý Tưởng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trần bá Tuấn, K.B.C. số 9, 1988 &lt;br /&gt;Ngày Quân Lực 1996 &lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-7230520763006158989?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/7230520763006158989/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/nha-ky-thuat-trung-ta-tran-ba-tuan.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/7230520763006158989'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/7230520763006158989'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/nha-ky-thuat-trung-ta-tran-ba-tuan.html' title='Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Trần Bá Tuân Chỉ Huy Phó Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk50_Tk_4aI/AAAAAAAAElM/Lme_4F9N7Vk/s72-c/tuanvahoang.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-6125344598183568569</id><published>2009-07-09T14:29:00.000-07:00</published><updated>2009-07-09T14:32:34.801-07:00</updated><title type='text'>Nha Kỹ Thuật / Việt Báo Online</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkFuVPhTjMI/AAAAAAAAEUo/mS96mwaSmeU/s1600-h/2688661570031690022lCHSJM_fs.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 293px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkFuVPhTjMI/AAAAAAAAEUo/mS96mwaSmeU/s400/2688661570031690022lCHSJM_fs.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5350679143515393218" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Sở khai thác địa hình trực thuộc Phủ Tổng-thống do đ/tá Lê quang Tung làm chỉ huy trưởng, chịu trách-nhiệm nhiều công-tác tình-báo quốc-nội và quốc-ngoại quan-trọng dưới sự chỉ-đạo trực-tiếp của ông cố-vấn Ngô đình Nhu và Tổng thống Ngô đình Diệm. Trong các cơ-cấu tình-báo này có phòng 45 hay phòng E đặc-trách thu-thập tình-báo phía bắc vĩ-tuyến 17. Phòng E sau này được gọi là Sở Bắc. Yểm-trợ tài-chánh và kỹ-thuật là cơ-quan Combined Studies (vỏ bọc của CIA) thuộc toà đại sứ Hoa-kỳ tại Sàgòn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;        Ðầu năm 1963. Sở khai thác địa hình đổi thành Bộ tư-lịnh lực lượng đặc biệt gồm hai đơn-vị : Liên-đoàn 77 và Liên-đoàn 31, đ/tá Lê quang Tung là vị tư-lịnh đầu tiên, trong khi đó Sở Bắc vẫn do CIA yểm-trợ, đ/tá Tung bị thảm-sát trong chính biến 1/11/63. Sau đó BTL/LLÐB được dời ra Nha trang và Sở Bắc được cải danh thành (sở khai thác) SKT/BTTM và vẫn tiếp-tục duy-trì các công-tác đặc-biệt, tách rời khỏi LLÐB, vị chỉ-huy trưởng đầu tiên là đ/tá Trần văn Hổ. Sau này trong chiến dịch Switching back, CIA bàn giao Sở khai thác lại cho MACV-SOG.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;        Ngoài các toán tình-báo dài hạn xâm nhập miền Bắc bằng cách nhẩy dù hay đổ bộ bằng đường biển hoặc các công-tác biệt-hải tập-kích, đánh phá các mục-tiêu dọc theo duyên-hải Bắc-Việt. Sở khai thác còn tổ-chức các toán thám-sát ngắn hạn hoạt-động vùng biên-giới Lào Việt nằm phía Bắc vĩ-tuyến 17 đến vĩ-tuyến 20 được gọi là các toán STRATA gồm các toán dân tộc thiểu số, dân sự chiến đấu và các quân nhân của đoàn 11 và đoàn 68. Cũng trong thời-gian này SOG huấn-luyện các toán thám-sát cho hành quân Shining Brass tại căn-cứ Long-Thành.(Sở liên-lạc) SLL/BTTM được thành lập trong thời gian này, đảm nhận công-tác ngoại biên Việt, Miên, Lào, các toán này mang danh chung là Lôi-Hổ có nhiệm-vụ thám-sát, phá-hoại các mục-tiêu trọng yếu của địch, chỉ điểm mục-tiêu cho phi-cơ oanh-kích, bắt cóc quân địch đem về khai thác, giải thoát tù-binh, hoặc tiếp-cứu phi công khi lâm nạn. Vị chỉ-huy trưởng đầu tiên là đ/tá Hồ-Tiêu gốc từ Sư-đoàn dù. Sau đó SLL được tiếp-tục chỉ-huy bằng các chỉ-huy trưởng từ nhẩy dù qua. Các cuộc hành quân thám-sát biên-giới phát-triển mạnh mẽ vào các năm 1966 đến 1972, dưới quyền chỉ-huy sau đó của các đ/tá Liêu quang Nghĩa, đ/tá Nguyễn văn Minh và đ/tá Nguyễn minh Tiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;        Sở liên-lạc có bộ chỉ-huy ở Sàigòn và 3 chiến-đoàn :CÐ1(CCN) Ðà nẵng, CÐ2 (CCC) Kontum, CÐ3(CCS) Ban mê Thuột. Mỗi chiến-đoàn có nhiều toán, các toán mang tên các tiểu-bang Hoa-kỳ, trừ các toán ở CÐ3 mang tên các vật dụng như Cưa, Búa ( RT Saw, RT Hammer v.v..). Qua năm 1972 lần lượt đều được đổi qua tên Việt.                                                             &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;        Các toán Lôi-Hổ được tổ-chức, huấn-luyện hành quân theo kỹ-thuật của LLÐB, sự khác biệt là các toán Lôi-Hổ hoạt-động ngoại biên, ngay trong lòng địch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;        Năm 1966. Sở khai thác cải danh là Sở kỹ-thuật và sau đó được nâng lên thành Nha kỹ-thuật. Lúc bấy giờ NKT có những đơn-vị sau đây : Sở liên-lạc, Ðoàn 11và Ðoàn 68 (sở công tác sau này), Sở không yểm, Sở phòng vệ duyên-hải, Trung tâm huấn-luyện Quyết Thắng (Long thành), Sở tâm-lý chiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;        Sở công tác sau này được thành lập với 2 đoàn 11 vá 68. Sau khi LLÐB giải tán, các sĩ-quan cán bộ cùng toán viên được chuyển qua thành lập các đoàn 71, 72, và 75. Thời gian đầu bộ chỉ-huy đồn trú ở Nha trang sau dời ra Ðà nẵng. Ðoàn 11, 71, 72 đồn trú tại Ðà nẵng, Ðoàn 75 tại Kontum, Ðoàn 68 đóng ở Sàigòn gần bộ chỉ-huy của Nha.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;         Kể từ năm 1972 vì thiếu phương tiện yểm-trợ và CS đã công khai đem quân vào miền Nam, địa bàn hoạt động của NKT/BTTM được thu hẹp lại, các đoàn và chiến-đoàn công tác được tăng phái cho các Quân-đoàn và thực hiện những cuộc thám sát nội biên sau hậu-tuyến địch. Vị chỉ-huy trưởng đầu tiên của Sở công tác là đ/tá Ngô thế Linh,kế đó là đ/tá Trần văn Hai, rồi đ/tá Ngô xuân Nghị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;         Ðể yểm-trợ cho SLL và SCT có Sở không yểm, liên-lạc với KQ xin cung- cấp phương-tiện xâm nhập, triệt xuất và yểm-trợ. Phi-đoàn 219 xử-dụng trực thăng H-34 đồn trú ngoài Ðà nẵng thường xuyên tăng phái cho NKT, phi đoàn trưởng là tr/tá Ðặng văn Phước tự Phước đạn đồng, sau này ông lên đ/tá và là Không-đoàn trưởng Không-đoàn 51 chiến-thuật của Sư-đoàn 1 KQ. Sau năm 1972 phi-đoàn 219 chuyển qua UH1-B và rời về Nha trang, số H-34 khiển-dụng được trao lại cho không lực hoàng gia Lào. Những phi-vụ tối ư đặc-biệt ngoài khả-năng của KQVN đều do Không lực Hoa-kỳ đảm trách, đôi khi phát xuất từ các căn-cứ trên lãnh thổ của đệ tam quốc-gia. Chỉ-huy trưởng Sở không yểm là đ/tá Dư quốc Lương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;         Công tác hải-vận và biệt hải được giao phó cho Sở phòng vệ duyên-hải đồn trú ở bán đảo Sơn trà, Ðà nẵng, chỉ-huy trưởng là tr/tá Hồ văn Kỳ Thoại, sau này được thăng Ðề-Ðốc. Sau hiệp-định Ba Lê, hoạt-động sở này bị giảm thiểu và sau đó cũng dùng để tăng phái cho các Quân-đoàn để thi-hành công tác sau hậu-tuyến địch trong nội địa miền Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;         Sở tâm lý chiến có hai đài phát thanh : Tiếng nói tự do và Gươm thiêng ái-quốc, phát thanh ra miền Bắc qua hai đài phát tuyến Cồn Tè ở Quảng Trị và Thanh Lam tại Huế. Sau này đài Gươm thiêng ái-quốc được thay thế bằng đài Mẹ Việt-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;         Ð/tá Hổ làm giám-đốc NKT/BTTM từ năm 1964 đến tháng 8/1968. Sau đó đ/tá Ðoàn văn Nu thay thế cho đến ngày cuối cùng của NKT.&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-6125344598183568569?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/6125344598183568569/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/tieu-su-nha-ky-thuat-viet-bao.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/6125344598183568569'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/6125344598183568569'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/tieu-su-nha-ky-thuat-viet-bao.html' title='Nha Kỹ Thuật / Việt Báo Online'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkFuVPhTjMI/AAAAAAAAEUo/mS96mwaSmeU/s72-c/2688661570031690022lCHSJM_fs.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-8255042819595591193</id><published>2009-07-09T14:26:00.001-07:00</published><updated>2009-07-09T14:26:26.131-07:00</updated><title type='text'>Biệt Kích Nhảy Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (bai III)</title><content type='html'>&lt;strong&gt;Biệt Kích Nhảy Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (bai III)&lt;br /&gt; &lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlN0ZsGlVfI/AAAAAAAAEnU/CiZcEORRue8/s1600-h/62120-medium_BietKich%2520070704.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 200px; height: 126px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlN0ZsGlVfI/AAAAAAAAEnU/CiZcEORRue8/s400/62120-medium_BietKich%2520070704.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5355752366557976050" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Hình bên: Toán Swan trong “Nhà An Toàn” tại Sài Gòn năm 1962. Từ trái, BK Nông Công Ðịnh, (toán trưởng tử trận), BK Lý A Nhì (hiện cư ngụ tại Dallas Fort Worth, Texas), BK Ðàm Văn Ngô (truyền tin), BK Ðàm Văn Tôn (tử trận), BK Nông Văn Hính (toán phó kiêm truyền tin, hiện cư ngụ tại Westminster, California). Còn thiếu một toán viên, không có trong hình là BK Mã Văn Ban (bị tử hình). (Hình: Biệt Kích Nhảy Bắc cung cấp) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài III: Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật, nơi phát sinh những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyên Huy/Người Việt&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có thể nói những hoạt động của Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật-Bộ Tổng Tham Mưu-Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là nơi đã phát sinh ra những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc. Ðó là một bộ phận gồm nhiều quân nhân, phần lớn là sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Công tác chính yếu của các sĩ quan này là đi tuyển mộ, lập thành những toán để được huấn luyện, thực hiện các chuyến hành quân thả người ra Bắc, theo dõi và điều hành công tác với những toán đã thả, lập chương trình thu hồi toán sau một thời gian được qui định (ngắn hay dài hạn).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về việc tuyển mộ, các sĩ quan trưởng công tác thường xuyên liên lạc với các đơn vị trong quân đội, phòng hay ban quản trị để lục tìm hồ sơ các chiến sĩ, sĩ quan có đủ điều kiện gia nhập công tác. Những tiêu chuẩn thường là người miền Bắc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số, những người theo Công Giáo, còn gia đình hay thân nhân ở lại ngoài Bắc sau năm 1954. Mặt khác, các sĩ quan trưởng công tác cũng nhờ các nhân sĩ trong cộng đồng sắc tộc, các nhà hoạt động chính trị, các vị linh mục giới thiệu cho những ai có lòng với đất nước và dân tộc. Sau khi được giới thiệu rồi, thường các sĩ quan trưởng công tác phải mất một thời gian làm quen, dọ ý các đối tượng. Sau khi đã biết chắc đối tượng thỏa thuận cộng tác, các đối tượng sẽ được chuyển về một nơi để làm thủ tục gia nhập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về việc huấn luyện, sau khi hoàn tất thủ tục, đối tượng được chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng ở Long Thành để được huấn luyện về nhiều môn (thường là 9 môn) trong đó có nhảy dù ngày và đêm, trèo cây, học sử dụng vũ khí (vũ khí từ các nước Tây Âu, tuyệt đối không có vũ khí do Hoa Kỳ sản xuất), học về mưu sinh, thoát hiểm, học về truyền tin và học về tâm lý chiến (cách thực hiện truyền đơn thạch bản, cách thả truyền đơn bằng súng phóng...). Sau một thời gian được huấn luyện, các chiến sĩ biệt kích được chuyển vào Khu Cấm ở Long Thành chờ ngày xuất phát. Kể từ giờ phút này, người chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc không còn được có một liên lạc nào với bên ngoài. Chỉ một người duy nhất được tiếp xúc là sĩ quan trưởng công tác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ lúc được tiếp xúc đến khi đi công tác, người lính Biệt Kích Nhảy Bắc thường phải qua một thời gian tương đối là một năm. Có toán kéo dài đến hai năm hay hơn và có thể sau cùng hủy bỏ, giải tán luôn, tùy theo tình hình và tin tức tình báo, an ninh. Cho đến thời gian vào Khu Cấm, những người lính Biệt Kích Nhảy Bắc luôn luôn tràn đầy nhuệ khí chiến đấu, công tác. Lý tưởng của tuổi trẻ lúc nào cũng rõ ràng trong tâm trí. Nhiều người cho biết rất nôn nóng được thả về quê hương bản quán, gặp lại người thân, bà con chòm xóm đã xa cách nhau 2, 3 năm trời kể từ khi di cư.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Họ mong muốn tạo được một phong trào nổi dậy chống độc tài Cộng Sản, mang lại cho bà con thân thuộc của họ cuộc sống ấm no như ở trong Nam. Họ vốn là những thành phần trẻ trong quân ngũ, nhiều người còn chưa rời khỏi ngưỡng cửa gia đình. Những phong trào chống Cộng mạnh mẽ được phát động trong dân chúng dưới thời chính phủ Ngô Ðình Diệm đã xây đắp cho họ lý tưởng, cho họ thấy được và hiểu được sự độc tài khát máu của chế độ Cộng Sản. Họ đã có được sự căm thù và họ cũng có được vị lãnh tụ anh minh là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm kiên quyết chống độc tài Cộng Sản. Nhiều người đã cương quyết ra đi chỉ vì lãnh tụ này. Nên khi cuộc chính biến ngày 1 Tháng Mười Một, 1963, nổ ra, chính phủ Ngô Ðình Diệm bị lật đổ, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị thảm sát thì một số lớn các toán đã từ chối không lên đường ra Bắc nữa vì, theo họ: “Chúng tôi ra Bắc chiến đấu vì tổng thống, nay tổng thống không còn, thì chúng tôi không đi nữa”. Ðó là các toán của trưởng công tác, Ðại Úy Michel vào đầu năm 1964.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðể tạm thời giải quyết vấn đề gần như “lãng công” trên, Sở Công Tác đưa một sĩ quan trẻ ngành tâm lý chiến mới ra trường xuống trung tâm Long Thành tìm cách làm yên lòng những người chống đối. Quả là một công việc ngoài sức của một chuẩn úy mới ra trường trong ngành tâm lý chiến. Nhưng may mắn làm sao, sau một buổi nói chuyện trong Khu Cấm, người sĩ quan trẻ tuổi này đã tạm thuyết phục được số anh em biệt kích chống đối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người sĩ quan này đã lý luận rằng: “Chúng ta chiến đấu cho đất nước Việt nam, cho dân tộc miền Bắc thoát khỏi gông cùm Cộng Sản chứ không phải chiến đấu vì một người, một chính phủ nào. Những chế độ chính trị, những chính phủ ví như những bộ áo khoác ngoài cho thân thể. Thân thể là quốc gia, là dân tộc. Thể chế chính trị, các chính phủ chỉ như những bộ áo quần khoác ngoài thân thể. Nên chính phủ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị lật đổ nay thay bằng một chính phủ khác để cho được hợp lòng dân hơn cũng ví như chúng ta thay bộ quần áo mát khi Mùa Ðông đã hết, thì mục đích chiến đấu của chúng ta là quốc gia, là dân tộc vẫn còn đó có thay đổi gì đâu.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lý luận đó đã khiến nhiều anh em biệt kích suy nghĩ lại và sau cùng đã nhận lên đường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do từ nhu cầu của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ mà Bộ Trưởng Mc Namara quan niệm rằng: “Phải có một chiến dịch lớn hơn bằng cách tung thật nhiều toán biệt kích ra Bắc” nên công việc tổ chức Biệt Kích Nhảy Bắc được hai phía Việt-Mỹ khai triển mạnh. Trong khi đó, tác giả Richard H. Schultz, trong cuốn “Secret War Against Ha Noi,” cho biết rằng Trung Tá Ed Partain, chỉ huy chiến dịch OP 34, “chưa được chuẩn bị sẵn sàng để chỉ huy công tác này” mặc dù ông ta là một sĩ quan ưu tú, tốt nghiệp từ quân trường nổi tiếng Westpoint của Hoa Kỳ. Vẫn theo Schultz trong cuốn sách trên thì cả những sĩ quan sau đó là Trung Tá Reginald Woolard và Robert Mc Lane cũng đều “không có chút kinh nghiệm gì về hoạt động này”. Còn về phía Việt Nam, khi người Mỹ muốn “xê ra để tao chống Cộng”, người Mỹ đã nắm hầu bao thì phía Việt Nam dù có kế hoạch hay ý kiến thay đổi gì cho phù hợp với tình hình thực tế miền Bắc trong nanh vuốt Cộng Sản, cũng khó lòng mà thực hiện được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Còn tiếp)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày mai, Bài IV: Những hoạt động của Biệt Kích Nhảy Bắc được ghi nhận qua một số tài liệu đã được bạch hóa.&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-8255042819595591193?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/8255042819595591193/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/biet-kich-nhay-bac-trong-cuoc-chien.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/8255042819595591193'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/8255042819595591193'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/biet-kich-nhay-bac-trong-cuoc-chien.html' title='Biệt Kích Nhảy Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (bai III)'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlN0ZsGlVfI/AAAAAAAAEnU/CiZcEORRue8/s72-c/62120-medium_BietKich%2520070704.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-6163528575368169622</id><published>2009-07-09T14:24:00.001-07:00</published><updated>2009-07-09T14:24:38.336-07:00</updated><title type='text'>Bài II: Chiến Sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc từ đâu mà ra</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlN1bUyOPDI/AAAAAAAAEnc/xULoKnIVbPk/s1600-h/62103-medium_BietKich%2520070703.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 200px; height: 136px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlN1bUyOPDI/AAAAAAAAEnc/xULoKnIVbPk/s400/62103-medium_BietKich%2520070703.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5355753494169926706" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Những chiến sĩ biệt kích thuộc Toán Strata trước ngày xâm nhập ra Bắc vào Tháng Mười Một, 1967. (Hình: Biệt Kích Nhảy Bắc cung cấp)&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Bài II: Chiến Sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc từ đâu mà ra &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyên Huy/Người Việt&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nơi tuyển mộ, huấn luyện, đào tạo những người chiến sĩ can trường Biệt Kích Nhảy Bắc là Nha Kỹ Thuật, hậu thân của Sở Kỹ Thuật có tiền thân là Sở Bắc trong thời Ðệ I VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự thành lập cơ quan “tình báo chiến lược” của VNCH này phát xuất từ giới lãnh đạo thượng đỉnh Hoa Kỳ, thời chính phủ Kennedy. Theo những tài liệu đã được bạch hóa thì vào năm 1962, Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy quyết định chuyển giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động bí mật chống Hà Nội từ CIA sang cho Bộ Quốc Phòng. Một đơn vị đặc biệt của Lầu Năm Góc được giao phụ trách và được trực tiếp chỉ huy bởi Chủ Tịch Tham Mưu Liên Quân. Tổ chức trực tiếp thi hành tại Việt Nam là cơ quan SOG trong MACV. Thế có nghĩa là hoạt động chiến tranh bí mật chống Hà Nội trước đó do CIA thực hiện thì nay được chuyển sang Bộ Quốc Phòng, quân sự hóa hoạt động tình báo này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;SOG có bốn nhiệm vụ là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Cài các toán gián điệp và chỉ đạo các toán ấy làm sao để tạo ra một chiến dịch nghi binh phức tạp trong đó có cả việt tuyển mộ tù binh của quân đội Bắc Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thực hiện chiến tranh tâm lý chống miền Bắc bằng cách dựng nên một phong trào chống đối giả ở Bắc Việt Nam, bắt cóc và tuyên truyền công dân Bắc Việt Nam, điều hành các đài phát thanh đen, phân phát các tài liệu tuyên truyền, viết giả các lá thư và các tài liệu giả hiệu khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Trên biển: Bắt giữ và phá hủy các tàu hải quân và thuyền đánh cá của Bắc Việt Nam (các hợp tác xã ven biển) đồng thời tập kích phá hoại các cơ sở quân sự và dân sự cũng như rải các truyền đơn, tài liệu chống phá chính quyền CSBV.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Rải các toán thám báo người dân tộc tại biên giới Lào-Việt, phá hoại đường mòn Hồ Chí Minh để ngăn cản hoạt động hậu cần của Bắc Việt cho những đơn vị bộ đội thẩm nhập vào Nam. Hoạt động thám báo này bao gồm luôn việc xác định mục tiêu không kích, bắt cóc bộ đội, đặt máy nghe trộm và rải các tài liệu chiến tranh tâm lý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo một số tài liệu được kê ra trong các cuốn “Secret Army, Secret War” và “Secret War Against Hanoi” của hai tác giả Sedgwick Tourison và Richard H. Shultz thì “các chính quyền Kennedy và Johnson muốn gây áp lực với Hà Nội và làm đúng những gì mà họ đang thực hiện đối với đồng minh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðối với người Việt Nam, nhất là những người di cư từ miền Bắc, ai cũng hiểu rằng, trước sau gì rồi Cộng Sản Bắc Việt cũng phải tìm cách đánh phá miền Nam trong ý đồ nhuộm đỏ Ðông Nam Á mà cộng sản quốc tế giao phó cho Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam. Bởi vì, ngay từ thời gian cuối năm 1954, khi phong trào di cư rầm rộ nổ ra với gần cả triệu người bỏ miền cộng sản về vùng quốc gia thì CSBV đã tung ra chiến dịch được gọi là “Chiếu cố miền Nam” gài những điệp viên vào hàng ngũ di cư đồng thời gài những cán bộ ở lại miền Nam, chỉ đưa ra Bắc một phần sau khi những người trong phần này đã dan díu tình cảm cụ thể với những thiếu nữ trong vùng họ hoạt động cốt để lại những cái “nhân” để sau này dễ bề “liên hệ” trong tình cảm gia đình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quả nhiên, sau năm 1956, chính phủ miền Nam không thực hiện việc hiệp thương vì không ký kết vào hiệp ước chia đôi đất nước, CSBV đã phát động ngay việc phá hoại miền Nam, một mặt đổ quân vào miền Nam hình thành đường dây 559, tức đường mòn Hồ Chí Minh. Mặt khác thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam vào Tháng Mười Hai năm 1960 để lừa dối dư luận thế giới. Sự lừa dối này không chỉ có kết quả với thế giới mà ngay với người Việt ở miền Nam cũng làm cho nhiều người tưởng thật. Khi đến khi cộng sản toàn thắng ngày 30 Tháng Tư, 1975, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và chính phủ Cộng Hòa Miền Nam đã bị CSBV giải tán ngay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðó là lý do các chính phủ Kennedy và Johnson thành lập và tiến hành cuộc chiến tranh “bất quy ước”, cuộc chiến tranh bí mật chống lại CSBV. Kế hoạch được vạch ra mang tên là 34A (viết tắt của chữ OPLAN 34) bao gồm tới 72 loại hoạt động với tổng số là 2,026 điệp vụ thực hiện trong năm 1964.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kế hoạch được vạch ra nhưng để thực hiện thì gặp phải khó khăn là “không tìm ra người phụ trách có đủ tiêu chuẩn”. Ðó là chưa kể đến sự “miễn cưỡng bàn giao” của CIA về trách vụ này cũng như về phía đối tác là Quân Lực VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiêu chuẩn là gì? Ðó là những hiểu biết về đất nước và con người Việt Nam, về cộng sản đã luồn sâu được vào tâm trí người dân Việt qua chiến thắng Ðiện Biên Phủ. Trong khi phía CIA đã nhận được ra rằng, “Xã hội ở Bắc Việt Nam được tổ chức chặt chẽ, không có ai được nằm ngoài tổ chức. Ðó là một xã hội phải sống trong kỷ luật và chúng ta phải thực hiện các hoạt động chống lại họ...” (Lời nhận xét của Giám Ðốc CIA William Colby). Trong khi đó thì Bộ Quốc Phòng, với McNamara thì cho rằng, CIA đã rụt rè không dám hành động và chủ trương rằng phải làm một chiến dịch lớn hơn bằng cách tung thật nhiều toán biệt kích ra Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và những toán biệt kích nhảy Bắc được hình thành nhanh chóng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Còn nữa) Ngày mai, Bài III, Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật, nơi phát sinh những chiến sĩ biệt kích nhảy Bắc.&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-6163528575368169622?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/6163528575368169622/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/bai-ii-chien-si-biet-kich-nhay-bac-tu.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/6163528575368169622'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/6163528575368169622'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/bai-ii-chien-si-biet-kich-nhay-bac-tu.html' title='Bài II: Chiến Sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc từ đâu mà ra'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlN1bUyOPDI/AAAAAAAAEnc/xULoKnIVbPk/s72-c/62103-medium_BietKich%2520070703.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-9005591704510325628</id><published>2009-07-09T14:16:00.000-07:00</published><updated>2009-07-09T17:15:31.256-07:00</updated><title type='text'>Biệt Kích Nhảy Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (Tiếp theo và hết)</title><content type='html'>&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Biệt Kích Nhảy Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (Tiếp theo và hết)&lt;br /&gt;Friday, July 06, 2007&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlaHbxnyvHI/AAAAAAAAEwo/y6LH-ptM4Fw/s1600-h/123ToanNhayBac.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 200px; height: 137px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlaHbxnyvHI/AAAAAAAAEwo/y6LH-ptM4Fw/s400/123ToanNhayBac.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356617718050241650" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán Hadley chụp hình tại Trung Tâm Huấn Luyện Long Thành. (Hình: Biệt Kích Nhảy Bắc cung cấp)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyên Huy/Người Việt&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài V: Một vài suy nghĩ về những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong bút ký “Bè bạn gần xa” của ký giả Lô Răng, tức cựu Trung Tá Phan Lạc Phúc, một ký giả tên tuổi trong làng báo Việt Nam trước năm 1975, ông đã viết về những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc mà ông gọi là biệt kích dù như sau: “Chúng tôi đi cải tạo sau Tháng Tư đen năm 1975, dù đớn đau khổ nhục đến đâu vẫn có tên, có tuổi, hàng tháng, hằng quý vẫn còn liên lạc được với gia đình. Anh em, bè bạn ở nước ngoài vẫn còn để mà theo dõi. Những anh em biệt kích dù thì đúng là “thượng diệt, hạ tuyệt”, không có quân bạ, quân số, không có tên tuổi nào được đăng ký, không có chính phủ nào, quân đội nào công nhận có những con người ấy ở dưới tay. Không được liên lạc với ai, coi như không còn hiện diện trên trái đất. Ở trên trời rơi xuống Bắc Việt vào đầu thập niên 1960 thời Ðệ I Cộng Hòa, những anh em biệt kích dù đã tham dự một cuộc chiến tranh tối mật (secret war). Những người tình nguyện tham gia cuộc chiến này đã tự coi như mình đã chết. Nhảy xuống, tìm được địa bàn hoạt động, trà trộn được, ẩn dấu được là sống là thi hành xong nhiệm vụ, nếu bị lộ, bị bắt, bị giết thì ‘anh tự lo liệu cho cái thân anh, không có cơ quan nào, tổ chức nào đứng ra can thiệp hay bảo trợ cho anh được.’ Những người từ ‘đứt dây rơi xuống’ này không được hưởng chút quyền lợi nào từ Quy Chế Tù Binh (Geneve). Các cơ quan nhân đạo quốc tế như Hội Hồng Thập Tự, Hội Ân Xá Quốc Tế cũng không biết làm sao can thiệp vì các anh đâu có quân bạ, quân số, đâu có tên có tuổi được đăng ký hợp pháp ở một chính phủ nào.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những nhận định của ký giả Lô Răng quả là chính xác và đúng thực tế về “thân phận” người lính Biệt Kích Nhảy Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Họ có được biết không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chắc chắn là có. Bởi khi được tuyển mộ, họ đã được các sĩ quan trưởng công tác cho biết nhiều lần tùy từng giai đoạn để không bị tiết lộ bí mật quốc phòng. Ngay cả trước khi vào khu cấm họ vẫn có quyền từ chối công tác, chỉ phải chịu một vài biện pháp về an ninh để bảo vệ an toàn cho toán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vậy thì lao vào chốn hiểm nguy có phải vì quyền lợi vật chất dành cho người lính can trường này không? Cũng không. Vì ngoài một số tiền thưởng lúc gia nhập (giống như tiền đầu quân thuộc các đơn vị khác) là 15,000 đồng VNCH (vào thời điểm đó một tô phở giá 5 đồng), những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc cũng chỉ được ăn lương theo như các đơn vị khác của Nha Kỹ Thuật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không thể phủ nhận được lý tưởng của những người chiến sĩ này. Họ ra đi vì mong cho người dân, đồng bào của họ thoát được ách cộng sản và có được cuộc sống no ấm như ở miền Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyện ấy không phải là lý thuyết, là tôn xưng tâm lý chiến, là sự vinh danh quá lời. Thực tế, khi họ bị sa cơ, bị bắt, bị cầm tù, bị tra khảo, cực hình nhưng hầu hết họ vẫn can trường, vẫn giữ được lập trường, không đầu hàng địch, không làm tay sai cho địch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Viết về tinh thần này, ký giả Lô Răng nhận xét: “Trên thực tế, anh em biệt kích dù suốt 20 năm tù đày gian khổ, vẫn tuân hành tuyệt đối mệnh lệnh của vị chỉ huy của họ, Ðại Úy Nguyễn Hữu Luyện. Ðây là một con người huyền thoại. Chúng tôi nghe đến tên anh từ lâu nhưng chưa bao giờ được gặp, vì anh không đi lao động ở ngoài...”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Ðây là người tù sau 20 năm bị bắt vẫn còn tuyên bố: ‘Tôi Nguyễn Hữu Luyện, đại úy QLVNCH... tôi chưa thua các anh. Tôi mới thua một trận, chưa thua cuộc chiến này.’”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong tập “Sơ Lược Kỷ Yếu” Biệt Kích Nhảy Bắc có đoạn kể rằng: “Từ những ngày còn ở trong nhà tù cộng sản, Biệt Kích Nhảy Bắc đã mang một nếp sống ‘lá lành đùm lá rách,’ biết bảo nhau, biết nghe nhau. Những nét vàng son đó đã được cán bộ coi tù tại các trại ghi nhận là nguy hiểm và áp dụng nhiều biện pháp ngăn chặn, nhưng Biệt Kích Nhảy Bắc vẫn thầm lặng duy trì nếp sống riêng của mình.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với người viết loạt bài này, khi đi tù cải tạo ở ngoài Bắc, tôi đã có thời gian cùng chung trại tù với một số Biệt Kích Nhảy Bắc, đó là trại Thanh Lâm vào năm 1978. Nhiều anh em Biệt Kích Nhảy Bắc lúc này đã được cộng sản “thả lỏng” và được gọi là “công nhân.” Bởi sau trên dưới 20 năm trong ngục tù cộng sản, anh em hoàn toàn mất liên lạc với gia đình nên khi được thả cũng không biết về đâu và cứ nấn ná quần tụ lại với nhau ngoài trại tù trở thành những “công nhân” bất đắc dĩ cho bọn cán bộ coi trại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua đôi lần được tiếp xúc lén lút, chúng tôi nhận thấy tinh thần anh em còn rất cao mặc dù nhiều người chỉ có trình độ nhận thức tiểu học. Họ vẫn một niềm kính trọng các anh em sĩ quan, dù chúng tôi có yêu cầu họ coi chúng tôi như anh em đồng tù. Tuy vậy, đối với những ai tỏ vẻ thân thiện hoặc cam tâm làm tay sai cho bọn cán bộ trại là họ phản ứng khinh miệt ra mặt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trại Thanh Lâm có 10 cựu quân cán chính cao cấp của VNCH trong đó có cựu Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, được cộng sản coi như thuộc “ban quản trị” của trại mà cộng sản gọi là Công Trường Thanh Lâm để lừa dối cơ quan Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) viện trợ cho dụng cụ và thực phẩm. Mười vị quan chức này được ở riêng trong một căn nhà lá bên ngoài trại gần khu cán bộ coi trại. Anh em biệt kích đã không ngớt nhắn gởi cho họ rằng: “Chỉ xin các vị giữ lấy tư cách làm người, chẳng cần phải là tư cách của một sĩ quan cao cấp hay một công chức thuộc hàng lãnh đạo.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thái độ của anh em biệt kích ở trại Thanh Lâm, khoảng 30 người, đã làm chúng tôi hết lòng nể phục, nhất là anh em lại hay nhắc nhở đến người sĩ quan mà họ coi là lãnh đạo, Ðại Úy Nguyễn Hữu Luyện đang trong kiên giam tại trại Thanh Phong, cách Thanh Lâm mấy chục cây số đường rừng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhắc lại chuyện người lính Biệt Kích Nhảy Bắc, qua một vài cuốn sách người Mỹ viết và qua những hồi ức một thời có liên quan đến công tác này, lòng tôi chợt cảm thấy bùi ngùi xót thương cho, không chỉ thân phận những người lính Biệt Kích Nhảy Bắc, mà chung cho cả những người lính QLVNCH, chung cho cả dân tộc Việt Nam, khi mà nhu cầu phục vụ cho quyền lợi nước Mỹ không cần thiết nữa thì bạn bè đồng minh gì cũng bị bỏ rơi hết mà người lính Biệt Kích Nhảy Bắc là một hình ảnh tượng trưng cụ thể nhất cho đất nước và dân tộc Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng ta, những người lính một thời nói chung và cộng đồng người Việt tị nạn nói riêng không biết có còn nghĩ đến cái “thân phận” ngày nào ấy không mà sao vẫn chưa nắm được tay nhau kết thành một khối để “lá lành đùm lá rách,” bảo ban giúp đỡ nhau như anh em Biệt Kích Nhảy Bắc đã làm được khi còn trong các trại tù của cộng sản suốt mấy chục năm trời. (N.H.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lời ghi chú: Hôm nay Thứ Bảy 7 Tháng Bảy, 2007, vào lúc 5 giờ chiều tại nhà hàng Emerald Bay, 5015 V W. Edinger Avenue, Santa Ana, hơn 100 Biệt Kích Nhảy Bắc từ khắp nơi trên thế giới sẽ về họp mặt “lần đầu cũng là lần chót” để cùng nhau làm một cái lễ truy điệu những anh em đã chết trong tù, khi chiến đấu cũng như khi ra tù. Ðồng thời đây cũng là dịp để anh em gặp gỡ hàn huyên chuyện mới chuyện cũ để tìm những thông cảm thương yêu nhau như ngày còn trong ngục tù cộng sản.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quí độc giả Người Việt có thể đến cùng anh em chung vui một buổi họp mặt hiếm có này.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-9005591704510325628?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/9005591704510325628/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/nha-ky-thuat-tuyet-mai.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/9005591704510325628'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/9005591704510325628'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/nha-ky-thuat-tuyet-mai.html' title='Biệt Kích Nhảy Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (Tiếp theo và hết)'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlaHbxnyvHI/AAAAAAAAEwo/y6LH-ptM4Fw/s72-c/123ToanNhayBac.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4566163018929007826.post-1434781140775888953</id><published>2009-07-09T14:10:00.000-07:00</published><updated>2009-08-04T14:38:16.896-07:00</updated><title type='text'>Presidential Unit Award / MACV-SOG VIET NAM</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgH_TJoxLI/AAAAAAAAFPk/LBi88JTtfBs/s1600-h/43426827SJhUrc_ph.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 176px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgH_TJoxLI/AAAAAAAAFPk/LBi88JTtfBs/s400/43426827SJhUrc_ph.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361544140438422706" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgHzT-MTPI/AAAAAAAAFPc/H5XiJecJ6Xc/s1600-h/43375689LBqUxv_ph.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 394px; height: 400px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgHzT-MTPI/AAAAAAAAFPc/H5XiJecJ6Xc/s400/43375689LBqUxv_ph.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361543934500424946" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;The well deserved MACVSOG Presidential Unit Citation, awarded April 4, 2001.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;MILITARY ASSISTANCE COMMAND, VIETNAM, STUDIES AND OBSERVATION GROUP&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;24 JANUARY 1964 TO 30 APRIL 1972 and the following assigned or attached units:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;U.S. Army: Command and Control Detachment, 5th Special Forces Group, Danang, Republic of Vietnam, 1 January 1965 to 31 December 1968; Special Operations Augmentation, Command and Control North, 5th Special Forces Group, Danang, Republic of Vietnam, 1 January 1968 to 31 December 1971; Task Force One, Advisory Element, U.S. Army Vietnam, Danang, Republic of Vietnam, 1 January 1971 to 30 April 1972; Special Operations Augmentation, Command and Control Central, 5th Special Forces Group, Kontum, Republic of Vietnam, 1 January 1969 to 31 December 1971; Task Force Two, Advisory Element, U.S. Army Vietnam, Kontum, Republic of Vietnam, 1 January 1971 to 30 April 1972; Company E (Provisional), Detachment C-5, 5th Special Forces Group, Ho Ngoc Tao, Republic of Vietnam, 1 June 1967 to 31 October 1967; Project Omega, Detachment B-50, 5th Special Forces Group, Kontum, Republic of Vietnam, 1 June 1967 to 31 October 1967; Project Sigma, Detachment B-56, 5th Special Forces Group, Ho Ngoc Tao, Republic of Vietnam, 1 June 1967 to 31 October 1967; Special Operations Augmentation, Command and Control South, 5th Special Forces Group, Ban Me Thuot, Republic of Vietnam, 1 November 1967 to 1 November 1971; Task Force Three, Advisory Element, U.S. Army Vietnam, Ban Me Thuot, Republic of Vietnam, 2 November 1971 to 30 April 1972; Detachment B-53, 5th Special Forces Group, Camp Long Thanh, Republic of Vietnam, 24 January 1964 to 31 December 1971; Training Center Advisory Element, U.S. Army Vietnam, Camp Long Thanh, Republic of Vietnam, 1 January 1971 to 30 April 1972&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;U.S. Navy: Naval Advisory Detachment, Danang, Republic of Vietnam; One U.S. Navy EC-121 Aircraft and Crew based at Saigon, Republic of Vietnam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;U.S. Marine Corps: assigned individually to Studies and Observation Group staffs.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;U.S. Air Force: 1st Flight Detachment, Nha Trang, Republic of Vietnam, 24 January 1964 to 31 December 1971; 15th Air Commando Squadron, Nha Trang, Republic of Vietnam, 1 January 1966 to 15 November 1968; 15th Special Operations Squadron, Nha Trang, Republic of Vietnam, 16 November 1968 to 15 November 1970; 90th Special Operations Squadron, (less non-Studies and Observation Group Pony Express detachment at Nakhon Phanom AFB, Thailand), Nha Trang, Republic of Vietnam, 1 June 1967 to 31 August 1968; 20th Special Operations Squadron, Nha Trang, Republic of Vietnam, 1 November 1968 to 31 March 1972.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Joint Service: Headquarters, Military Assistance Command, Vietnam – Studies and Observation Group, Saigon, Republic of Vietnam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;South Vietnamese Air Force: 219th Helicopter Squadron, Danang. , Republic of Vietnam&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The Studies and Observation Group is cited for extraordinary heroism, great combat achievement and unwavering fidelity while executing unheralded top secret missions deep behind enemy lines across Southeast Asia. Incorporating volunteers from all branches of the Armed Forces, and especially, U.S. Army Special Forces, Special Operations Group’s ground, air and sea units fought officially denied actions which contributed immeasurably to the American war effort in Vietnam. Military Assistance Command, Vietnam – Special Operations Group reconnaissance teams composed of Special Forces soldiers and indigenous personnel penetrated the enemy’s most dangerous redoubts in the jungled Laotian wilderness and the sanctuaries of eastern Cambodia. Pursued by human trackers and even bloodhounds, these small teams out-maneuvered, out-fought and out-ran their numerically superior foe to uncover key enemy facilities, rescue downed pilots, plant wiretaps, mines and electronic sensors, capture valuable enemy prisoners, ambush convoys, discover and assess targets for B-52 strikes, and inflict casualties all out of proportion to their own losses. When enemy counter-measures became dangerously effective, Special Operations Group operators innovated their own counters, from high altitude parachuting and unusual explosive devices, to tactics as old as the French and Indian War. Fighting alongside their Montagnard, Chinese Nung, Cambodian and Vietnamese allies, Special Forces – led Hatchet Force companies and platoons staged daring raids against key enemy facilities in Laos and Cambodia, overran major munitions and supply stockpiles, and blocked enemy highways to choke off the flow of supplies to South Vietnam. Special Operations Group’s cross-border operations proved an effective economy-of-force, compelling the North Vietnamese Army to divert 50,000 soldiers to rear area security duties, far from the battlefields of South Vietnam. Supporting these hazardous missions were Special Operations Group’s own United States and South Vietnamese Air Force transport and helicopter squadrons, along with U.S. Air Force Forward Air Controllers and helicopter units of the U.S. Army and U.S. Marine Corps. These courageous aviators often flew through heavy fire to extract Special Operations Group operators from seemingly hopeless situations, saving lives by selflessly risking their own. Special Operations Group’s Vietnamese navel surface forces – instructed and advised by U.S. Navy SEALS – boldly raided North Vietnam’s coast and won surface victories against the North Vietnamese Navy, while indigenous agent teams penetrated the very heartland of North Vietnam. Despite casualties that sometimes became universal, Special Operations Group’s operators never wavered, but fought throughout the war with the same flair, fidelity and intrepidity that distinguished Special Operations Group from its beginning. The Studies and Observations Group’s combat prowess, martial skills and unacknowledged sacrifices saved many American lives, and provide a paragon for America’s future special operations forces.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[Signed By] Thomas E. White, Secretary of the Army [TAPC-PDO-PA]&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgDkoyoLJI/AAAAAAAAFPE/97hOUSaBWm8/s1600-h/43375755AdJiAp_ph.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 300px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgDkoyoLJI/AAAAAAAAFPE/97hOUSaBWm8/s400/43375755AdJiAp_ph.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361539284344515730" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgDgeJ1_TI/AAAAAAAAFO8/mgPsceNabxw/s1600-h/43376094WBJCOj_ph.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 300px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgDgeJ1_TI/AAAAAAAAFO8/mgPsceNabxw/s400/43376094WBJCOj_ph.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361539212769623346" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgDaU5NSJI/AAAAAAAAFO0/3ie7wtzx5YE/s1600-h/43375712WkDKvf_ph.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 385px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgDaU5NSJI/AAAAAAAAFO0/3ie7wtzx5YE/s400/43375712WkDKvf_ph.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361539107204712594" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgI_bO5caI/AAAAAAAAFQM/7kRCggmkk8o/s1600-h/43427816uYHkMq_fs.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 218px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgI_bO5caI/AAAAAAAAFQM/7kRCggmkk8o/s400/43427816uYHkMq_fs.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361545242119598498" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgI6G3EAII/AAAAAAAAFQE/OMRF_ujBLcc/s1600-h/43375591ZMJlFh_ph.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 300px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgI6G3EAII/AAAAAAAAFQE/OMRF_ujBLcc/s400/43375591ZMJlFh_ph.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361545150751572098" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgI2oLFeOI/AAAAAAAAFP8/Rcouw-fijVY/s1600-h/43375118oXtPiE_ph.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 278px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgI2oLFeOI/AAAAAAAAFP8/Rcouw-fijVY/s400/43375118oXtPiE_ph.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361545090974447842" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgIzVzBMFI/AAAAAAAAFP0/Nim8aIq-5b4/s1600-h/43375084BfdxJX_ph.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 300px; height: 400px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgIzVzBMFI/AAAAAAAAFP0/Nim8aIq-5b4/s400/43375084BfdxJX_ph.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361545034502058066" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgIwIkE7PI/AAAAAAAAFPs/mvZEMcJGwtk/s1600-h/43375067XyPszX_ph.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 300px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgIwIkE7PI/AAAAAAAAFPs/mvZEMcJGwtk/s400/43375067XyPszX_ph.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361544979410119922" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZfhm0KSWI/AAAAAAAAEvg/_j4cnhZVk_g/s1600-h/165131757zcdddU_phtoan723.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 299px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SlZfhm0KSWI/AAAAAAAAEvg/_j4cnhZVk_g/s400/165131757zcdddU_phtoan723.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5356573837763430754" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgJ5WCXxaI/AAAAAAAAFQU/UB9ObFmztbA/s1600-h/103-0308_IMG.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 300px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgJ5WCXxaI/AAAAAAAAFQU/UB9ObFmztbA/s400/103-0308_IMG.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361546237157295522" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm3qruWrY3I/AAAAAAAAFTg/P2-4-lpsvbk/s1600-h/43426332wQgXPz_ph.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 332px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm3qruWrY3I/AAAAAAAAFTg/P2-4-lpsvbk/s400/43426332wQgXPz_ph.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5363200768166552434" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm3qu_pNpHI/AAAAAAAAFTo/eEvwMTPW6Ks/s1600-h/43375712WkDKvf_ph.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 385px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm3qu_pNpHI/AAAAAAAAFTo/eEvwMTPW6Ks/s400/43375712WkDKvf_ph.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5363200824347305074" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm3p7QjFFZI/AAAAAAAAFTQ/e1jIuZTDxJw/s1600-h/bcvnpuc.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 259px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sm3p7QjFFZI/AAAAAAAAFTQ/e1jIuZTDxJw/s400/bcvnpuc.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5363199935531783570" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4566163018929007826-1434781140775888953?l=lichsunhakythuat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/feeds/1434781140775888953/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/nha-ky-thuat-thieu-ta-lu-trieu-khanh.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/1434781140775888953'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4566163018929007826/posts/default/1434781140775888953'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://lichsunhakythuat.blogspot.com/2009/07/nha-ky-thuat-thieu-ta-lu-trieu-khanh.html' title='Presidential Unit Award / MACV-SOG VIET NAM'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmgH_TJoxLI/AAAAAAAAFPk/LBi88JTtfBs/s72-c/43426827SJhUrc_ph.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry></feed>
